Tổng quan luận án

Hoạt động cạnh tranh là động lực cơ bản thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thị trường, góp phần phân bổ hiệu quả các nguồn lực xã hội. Nhằm kiểm soát các hành vi triệt tiêu sự cạnh tranh, các quốc gia thiết lập hệ thống pháp luật chống hạn chế cạnh tranh (HCCT) — lĩnh vực pháp luật được định vị như “Hiến pháp” của nền kinh tế. Cùng với hệ thống quy phạm nội dung, quy trình tố tụng cạnh tranh (TTCT) và thiết chế cơ quan quản lý cạnh tranh (QLCT) đóng vai trò quyết định hiệu quả thực thi chính sách cạnh tranh trên thực tế.

Tại Việt Nam, Luật Cạnh tranh (2004) được Quốc hội thông qua ngày 03/12/2004 và có hiệu lực từ ngày 01/07/2005. Tuy nhiên, sau 12 năm thực thi (tính đến năm 2017), cơ quan QLCT chỉ tiến hành điều tra được 08 vụ việc HCCT và Hội đồng cạnh tranh (HĐCT) ra phán quyết xử lý được 06 vụ việc; thời gian giải quyết trung bình kéo dài khoảng 03 năm cho mỗi vụ việc. Thực tiễn này phản ánh sự kém hiệu quả của quy trình tố tụng hiện hành và vai trò mờ nhạt của hệ thống cơ quan cạnh tranh. Ngày 12/06/2018, Luật Cạnh tranh (2018) được thông qua tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XIV (có hiệu lực từ ngày 01/07/2019) nhằm thay thế Luật Cạnh tranh (2004). Mặc dù có những điều chỉnh, đạo luật mới vẫn tồn tại những khoảng trống chưa được giải quyết đồng bộ như: cơ chế áp dụng các biện pháp ngăn chặn hành chính; quy trình giải quyết yêu cầu khiếu nại, khởi kiện của doanh nghiệp, người tiêu dùng; và thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi HCCT gây ra.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: Phần lớn các công trình nghiên cứu tại Việt Nam trước đây chủ yếu tập trung vào các chế định thuộc “luật nội dung”, thiếu vắng các công trình nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu và có tính hệ thống về “luật hình thức”, cụ thể là thủ tục giải quyết vụ việc HCCT; các báo cáo rà soát của cơ quan quản lý nhà nước chủ yếu dừng lại ở mức độ mô tả kinh nghiệm nước ngoài mà chưa đi sâu vào từng giai đoạn tố tụng cụ thể và sự tham gia của các chủ thể tố tụng.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

  • Mục đích nghiên cứu: Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về thủ tục giải quyết vụ việc HCCT; phân tích, đánh giá thực trạng và thực tiễn thi hành pháp luật về thủ tục giải quyết vụ việc HCCT ở Việt Nam; từ đó đưa ra phương hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thủ tục giải quyết vụ việc HCCT ở Việt Nam hiện nay.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của thủ tục giải quyết vụ việc HCCT;
    2. Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về thủ tục giải quyết vụ việc HCCT ở Việt Nam hiện nay;
    3. Đánh giá thực tiễn việc áp dụng các quy định pháp luật để giải quyết vụ việc HCCT ở Việt Nam trong thời gian qua (từ khi Luật Cạnh tranh 2004 có hiệu lực đến nay);
    4. Nghiên cứu so sánh các quy định pháp luật về thủ tục giải quyết vụ việc HCCT ở Việt Nam hiện nay với quy định pháp luật của các quốc gia có truyền thống và kinh nghiệm trên thế giới (Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Nhật Bản, Nga) nhằm rút ra bài học kinh nghiệm;
    5. Đề xuất phương hướng và các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thủ tục giải quyết vụ việc HCCT ở Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu:

  1. Vụ việc HCCT là gì? Loại vụ việc này có gì giống và khác trong mối tương quan với vụ việc cạnh tranh nói chung, vụ việc vi phạm quy định về tập trung kinh tế và vụ việc cạnh tranh không lành mạnh? Vụ việc HCCT phát sinh khi nào?
  2. Thủ tục giải quyết vụ việc HCCT là gì? Bản chất, các đặc trưng pháp lý và các nguyên tắc cơ bản của thủ tục giải quyết vụ việc HCCT?
  3. Pháp luật các nước có kinh nghiệm trong việc xây dựng và thực thi pháp luật cạnh tranh trên thế giới thường quy định thủ tục giải quyết vụ việc HCCT bao gồm những giai đoạn, quy trình, thủ tục nào? Với sự tham gia của các cơ quan, tổ chức, cá nhân nào vào các giai đoạn, quy trình, thủ tục đó nhằm giải quyết vụ việc HCCT?
  4. Thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam hiện nay về thủ tục giải quyết vụ việc HCCT? Tính hợp lý và hiệu quả trong quá trình áp dụng các quy định đó?
  5. Để nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định pháp luật về thủ tục giải quyết vụ việc HCCT ở Việt Nam hiện nay cần hoàn thiện pháp luật theo định hướng như thế nào? Và các giải pháp cụ thể?

Giả thuyết nghiên cứu:

  1. Ở Việt Nam hiện nay, chưa có cách hiểu thống nhất về vụ việc HCCT và thủ tục giải quyết vụ việc HCCT. Khái niệm vụ việc HCCT bị đánh đồng với khái niệm vụ việc cạnh tranh không lành mạnh và vụ việc vi phạm quy định về tập trung kinh tế trong khái niệm vụ việc cạnh tranh.
  2. Nội dung cơ bản của thủ tục giải quyết vụ việc HCCT là việc các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo thẩm quyền tiến hành các hoạt động theo trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định để giải quyết vụ việc HCCT. Thủ tục giải quyết vụ việc HCCT có thể bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau.
  3. Các quy định pháp luật về thủ tục giải quyết vụ việc HCCT ở Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn.
  4. Các quy định về thủ tục giải quyết vụ việc HCCT của Luật Cạnh tranh (2018) thay thế cho Luật Cạnh tranh (2004) có nhiều thay đổi tiến bộ song vẫn chưa thực sự hoàn hảo. Pháp luật về thủ tục giải quyết vụ việc HCCT ở Việt Nam hiện nay vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Pháp luật về thủ tục giải quyết vụ việc HCCT ở Việt Nam hiện nay, bao gồm 4 nhóm vấn đề: (I) Các khái niệm có liên quan, đặc điểm, bản chất pháp lý và các nguyên tắc của thủ tục giải quyết vụ việc HCCT; (II) Trình tự, nội dung các giai đoạn của thủ tục giải quyết vụ việc HCCT; (III) Các chủ thể có thẩm quyền giải quyết vụ việc HCCT và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của họ trong từng giai đoạn; (IV) Các tổ chức, cá nhân tham gia vào thủ tục giải quyết vụ việc HCCT và quyền, nghĩa vụ của họ.
  • Phạm vi nội dung: Luận án chỉ nghiên cứu thủ tục giải quyết vụ việc HCCT với tính chất là các bước, các giai đoạn tố tụng được thiết lập theo trình tự pháp luật quy định. Luận án không nghiên cứu: thủ tục xin hưởng miễn trừ đối với thỏa thuận HCCT hoặc tập trung kinh tế; thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh không lành mạnh; thủ tục kiểm soát và xử lý hành vi vi phạm về tập trung kinh tế; việc xử lý bằng pháp luật hình sự đối với hành vi HCCT.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2004 (khi Luật Cạnh tranh 2004 được ban hành) cho đến nay.
  • Phạm vi không gian: Lãnh thổ Việt Nam, đồng thời tìm hiểu, so sánh với pháp luật của Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Nhật Bản và Liên bang Nga.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu được luận án hệ thống hóa qua 4 nhóm nội dung chính từ các công trình trong và ngoài nước:

Thứ nhất, các nghiên cứu lý luận về khái niệm, bản chất, đặc trưng và vai trò của thủ tục giải quyết vụ việc HCCT:

  • Về khái niệm và đặc trưng: Nguyễn Như Phát và Lê Anh Tuấn (2006) trong bài viết “Một số quy định về TTCT theo Luật Cạnh tranh Việt Nam” trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật đã chỉ ra TTCT là hoạt động của cơ quan hành chính – tư pháp mang tính chất đặc thù; Đinh Thị Mỹ Loan (2005) trong sách chuyên khảo Bình luận khoa học Luật Cạnh tranh; Tăng Văn Nghĩa (2009) trong Giáo trình Luật Cạnh tranh; Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc và Nguyễn Ngọc Sơn (2006) trong chuyên khảo Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam. Các công trình này thống nhất xác định vụ việc cạnh tranh là vụ việc có dấu hiệu vi phạm bị cơ quan nhà nước điều tra, xử lý.
  • Về bản chất pháp lý: Phạm Duy Nghĩa (2004) trong Chuyên khảo Luật kinh tế nhận định TTCT là loại tố tụng đặc biệt có tính tranh tụng cao, pha trộn giữa tố tụng dân sự, hành chính và hình sự. Quan điểm này cũng được phản ánh qua nghiên cứu của Dương Đăng Huệ và Nguyễn Hữu Huyên (2004) trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật.
  • Về vai trò và sự cần thiết của quy trình tố tụng: Nguyễn Như Phát và Trần Đình Hảo (đồng chủ biên, 2001); Nguyễn Như Phát và Bùi Nguyên Khánh (2001); Phạm Duy Nghĩa (2003); Nguyễn Hữu Huyên (2004, 2006); Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương - CIEM (2002); các tài liệu quốc tế gồm Office of Fair Trading - OFT (UK, 2004), Xuezheng Wang (OECD, 2001), Dahuan Tong, Christopher L. Sagers (2011).

Thứ hai, các nghiên cứu lý luận về chủ thể tiến hành và tham gia thủ tục:

  • Đinh Thị Mỹ Loan (2005) và Tăng Văn Nghĩa (2009) phân loại cơ quan tiến hành tố tụng (Cục QLCT, HĐCT), người tiến hành tố tụng (Thành viên HĐCT, Thủ trưởng cơ quan QLCT, Điều tra viên, Thư ký phiên điều trần) và người tham gia tố tụng (bên khiếu nại, bên bị điều tra, luật sư, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan).
  • Bản chất pháp lý và mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh được phân tích sâu bởi: Phạm Duy Nghĩa (2001); Bùi Nguyên Khánh (2004); Nguyễn Hữu Huyên (2004, 2006); Dương Đăng Huệ và Nguyễn Hữu Huyên (2004, 2006); Trương Hồng Quang (2011); Đặng Vũ Huân (2002); Kỷ yếu tọa đàm Cục QLCT (2009); Dominique Brault (2005); Arnaud De Raulin, Jean-Paul Pastorel, Trịnh Quốc Toản, Nguyễn Hoàng Anh (2016); C. Douglas Floyd; Christopher L. Sagers (2011) và Báo cáo mô hình cơ quan QLCT của Bộ Công Thương (2017). Các nghiên cứu khẳng định cơ quan cạnh tranh mang bản chất “lưỡng tính”, nửa hành chính – nửa tư pháp.

Thứ ba, các nghiên cứu về trình tự và các giai đoạn tố tụng:

  • Trong nước: Nguyễn Như Phát, Lê Anh Tuấn (2006); Tăng Văn Nghĩa (2009); Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, Nguyễn Ngọc Sơn (2006) chia thủ tục thành các giai đoạn: tiếp nhận thông tin/khiếu nại; điều tra; mở phiên điều trần giải quyết; giải quyết khiếu nại quyết định xử lý; và giải quyết vụ kiện hành chính tại Tòa án.
  • Quốc tế: Nguyễn Hữu Huyên (2004); Dominique Brault (2005); Cục QLCT (2007); Christopher L. Sagers (2011); Ernest Gellhorn, William E. Kovacic, Stephen Calkings (2004); Fordham University (2008); Kazuhiro Muruyama (Ủy ban Thương mại Lành mạnh Nhật Bản - JFTC, 2004) chia quy trình tại Nhật Bản thành 4 giai đoạn (phát hiện/tiếp nhận thông tin; điều tra xác minh; tổ chức phiên điều trần; khởi kiện tại Tòa án cấp cao Tokyo).

Thứ tư, các nghiên cứu thực trạng và hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam:

  • Báo cáo tổng kết 12 năm thi hành Luật Cạnh tranh (2017), Báo cáo kinh nghiệm quốc tế (2017), Báo cáo đánh giá tác động và Tờ trình Dự án Luật Cạnh tranh sửa đổi (2017) của Bộ Công Thương; Báo cáo rà soát Luật Cạnh tranh của Cục QLCT và Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA).
  • Phạm Duy Nghĩa (2004, 2011) chỉ rõ sự bất cập khi không phân tách giữa tố tụng xử lý cạnh tranh không lành mạnh (thuộc luật tư, nghĩa vụ chứng minh thuộc bên khiếu nại) và xử lý HCCT (thuộc luật công, nghĩa vụ chứng minh thuộc cơ quan cạnh tranh). Các báo cáo của Bộ Công Thương và JICA nhấn mạnh thời hạn điều tra và thời hạn ra quyết định xử lý quá ngắn, cũng như sự bất cập khi HĐCT phải theo kiện hành chính tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh ở nhiều địa phương khác nhau.

Khoảng trống và vị trí của luận án: Các nghiên cứu trước đây chưa xây dựng được hệ thống khái niệm chuyên biệt cho thủ tục giải quyết vụ việc HCCT mà mới tiếp cận chung dưới góc độ TTCT; chưa đánh giá chuyên sâu và toàn diện nội dung từng giai đoạn tố tụng; đồng thời chưa có công trình nào đánh giá quy trình giải quyết vụ việc HCCT dưới các quy định mới của Luật Cạnh tranh (2018). Luận án kế thừa các nhận định lý luận về tính chất hỗn hợp hành chính - tư pháp và tiếp tục hoàn thiện cơ sở lý luận riêng biệt, phân tích thực trạng thực thi Luật Cạnh tranh 2004 và đề xuất giải pháp cho giai đoạn thi hành Luật Cạnh tranh 2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết nghiên cứu:

  • Nền tảng mối quan hệ giữa pháp luật nội dung và pháp luật hình thức: Hiệu quả của thủ tục giải quyết vụ việc HCCT được xác định qua khả năng đưa các quy định nội dung của pháp luật cạnh tranh vào thực tiễn đời sống kinh tế.
  • Các lý thuyết kinh tế và cạnh tranh: Lý thuyết cạnh tranh của trường phái cổ điển (Adam Smith, John Stuart Mill); trường phái tân cổ điển (John Maynard Keynes); lý thuyết cạnh tranh tự do; lý thuyết Chiến lược cạnh tranh của Michael E. Porter; lý thuyết về mối quan hệ kinh tế - luật trong lĩnh vực cạnh tranh.
  • Các lý thuyết bổ trợ: Lý thuyết về chính sách ngành; lý thuyết về xác định thị trường liên quan (đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế số); lý thuyết về thủ tục hành chính và giải quyết vụ án hành chính.

Phương pháp luận: Luận án vận dụng quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phương pháp tư duy kinh tế - luật; phương pháp luận về Nhà nước pháp quyền và cải cách, đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước, cải cách tư pháp tại Việt Nam.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp tổng hợp và phân tích: Sử dụng chủ yếu để tập hợp, phân nhóm, mổ xẻ các quy định pháp luật thực định và hình thành hệ thống luận cứ khoa học.
  • Phương pháp luật học so sánh: Sử dụng xuyên suốt nhằm đối chiếu pháp luật Việt Nam với pháp luật Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Nhật Bản, Liên bang Nga về mô hình cơ quan cạnh tranh, quy trình tố tụng, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể.
  • Phương pháp trừu tượng: Sử dụng để khái quát hóa các kết quả nghiên cứu thực tiễn thành hệ thống luận điểm lý luận, xác định nguyên tắc tố tụng và giải pháp hoàn thiện.
  • Phương pháp nghiên cứu gián tiếp: Sử dụng để xử lý, đánh giá nguồn tư liệu sơ cấp từ các báo cáo chuyên môn của Cục QLCT, HĐCT, báo cáo điều tra viên và các quyết định xử lý vụ việc.
  • Phương pháp tiếp cận hệ thống, đa ngành, liên ngành: Kết hợp khoa học pháp lý với kinh tế học và lịch sử nhằm phân tích bản chất kinh tế - pháp lý của hành vi HCCT.

Nguồn tư liệu và dữ liệu: Văn bản pháp luật thực định (Luật Cạnh tranh 2004, Luật Cạnh tranh 2018, Nghị định 116/2005/NĐ-CP); các báo cáo tổng kết 12 năm thi hành Luật Cạnh tranh của Bộ Công Thương (2017); báo cáo rà soát của JICA; các tài liệu hướng dẫn của UNCTAD, OECD và quyết định xử lý thực tế của HĐCT tính đến năm 2016-2017.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước liên quan đến TTCT và thủ tục giải quyết vụ việc HCCT. Tác giả phân chia tình hình nghiên cứu thành 4 nhóm vấn đề: lý luận về thủ tục và khái niệm; lý luận về chủ thể tố tụng; nghiên cứu về quy trình các giai đoạn tố tụng; và thực trạng áp dụng cùng kiến nghị hoàn thiện.

Chương này xác lập cơ sở lý thuyết dựa trên sự gắn kết giữa luật nội dung và luật hình thức, kết hợp các học thuyết cạnh tranh kinh tế từ cổ điển (Adam Smith, J.S. Mill) đến tân cổ điển (Keynes) và chiến lược cạnh tranh hiện đại (Michael E. Porter). Kết luận chương chỉ rõ: Dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về cạnh tranh, Việt Nam vẫn thiếu vắng nghiên cứu chuyên sâu về quy trình thủ tục giải quyết vụ việc HCCT theo tinh thần Luật Cạnh tranh (2018). Luận án xác định 5 câu hỏi nghiên cứu và 4 giả thuyết khoa học làm định hướng triển khai cho các chương kế tiếp.

Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC HẠN CHẾ CẠNH TRANH

Chương 2 tập trung phân tích bản chất kinh tế - pháp lý của hành vi HCCT và xác định các đặc trưng, nguyên tắc nền tảng của quy trình giải quyết vụ việc.

Về bản chất kinh tế - pháp lý: Hành vi HCCT (thỏa thuận HCCT, lạm dụng vị trí thống lĩnh/độc quyền, tập trung kinh tế) do thương nhân thực hiện nhằm triệt tiêu áp lực cạnh tranh và tối đa hóa lợi nhuận. Hành vi này làm biến dạng cấu trúc thị trường, tổn hại phân bổ nguồn lực và gây hại cho toàn bộ nền kinh tế, nguy hiểm hơn nhiều so với hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Do đó, Nhà nước can thiệp bằng luật công để giới hạn quyền tự do ý chí và tự do khế ước vô hạn của doanh nghiệp nhằm bảo vệ trật tự thị trường chung.

Về các đặc trưng pháp lý của thủ tục:

  • Tính chất đặc thù và sự “tràn bờ”: Pháp luật cạnh tranh không có hệ thống chế tài hoàn toàn độc lập mà sử dụng tổng hợp chế tài dân sự (bồi thường thiệt hại), chế tài hành chính (phạt tiền) và chế tài hình sự (khi cấu thành tội phạm). Thủ tục giải quyết do đó vay mượn các công cụ từ nhiều ngành luật khác nhau nhằm đạt hiệu quả nhanh chóng.
  • Sự pha trộn giữa thủ tục hành chính và thủ tục tư pháp: Cơ quan cạnh tranh mang bản chất “lưỡng tính” (bán hành chính, bán tư pháp). Quyền chủ động mở thủ tục điều tra thể hiện quyền lực hành chính nhà nước; trong khi việc tổ chức phiên điều trần tranh tụng để ra phán quyết lại mang đặc tính của cơ quan tư pháp.
  • Phân biệt với thủ tục giải quyết cạnh tranh không lành mạnh: Vụ việc cạnh tranh không lành mạnh thuộc phạm vi luật tư, khởi xướng theo yêu cầu đương sự và nghĩa vụ chứng minh thuộc về người khiếu nại. Ngược lại, vụ việc HCCT xâm hại lợi ích công, thuộc phạm vi luật công; cơ quan cạnh tranh chủ động nhập cuộc với vai trò tương tự như cơ quan công tố và gánh vác nghĩa vụ điều tra, thu thập, chứng minh hành vi vi phạm.

Về các nguyên tắc cơ bản:

  • Nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, khởi kiện: Bảo đảm quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý hành vi HCCT trái pháp luật và bảo đảm quyền khiếu nại, khởi kiện đối với chính quyết định xử lý vụ việc của cơ quan cạnh tranh ra cơ quan cấp trên hoặc Tòa án.
  • Nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng: Đảm bảo quyền được biết chứng cứ, quyền đưa ra lập luận phản bác và sự tham gia của luật sư từ giai đoạn điều tra đến phiên điều trần. Nguyên tắc này chỉ bị hạn chế khi cần bảo mật thông tin theo Điều 84 Nghị định 116/2005/NĐ-CP (bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh, thuần phong mỹ tục).
  • Nguyên tắc bảo đảm quyền được xét xử công bằng: Các bên bình đẳng trước cơ quan tài phán, được hưởng các bảo đảm theo chuẩn mực quốc tế (Điều 10, 11 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền 1948; Điều 14 Công ước ICCPR — bao gồm quyền không bị buộc phải đưa ra chứng cứ chống lại chính mình).

Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC HẠN CHẾ CẠNH TRANH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chương 3 phân tích thực trạng hệ thống quy phạm pháp luật thực định và dữ liệu áp dụng thực tế từ năm 2005 đến năm 2017 theo Luật Cạnh tranh (2004), đối chiếu với những điểm mới của Luật Cạnh tranh (2018).

Thực trạng xử lý vụ việc HCCT sau 12 năm thi hành Luật Cạnh tranh (2004):

Tiêu chí Số liệu thực tế (2005 - 2017)
Số vụ việc HCCT được điều tra 08 vụ việc
Số vụ việc HCCT được HĐCT ra phán quyết xử lý 06 vụ việc
Thời gian giải quyết trung bình Khoảng 03 năm / vụ việc

Những bất cập trong từng giai đoạn tố tụng:

  • Chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng: Mô hình phân đôi cơ quan gồm Cục QLCT (điều tra) và HĐCT (xử lý). Cục QLCT trực thuộc Bộ Công Thương dẫn đến nghi ngại về tính độc lập khi điều tra các Tổng công ty, Tập đoàn kinh tế Nhà nước lớn. HĐCT gồm 11 đến 15 thành viên (thực tế có thời điểm là 11 thành viên) do Thủ tướng bổ nhiệm nhưng hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm, không tham gia điều tra từ đầu nên gặp nhiều khó khăn khi nghiên cứu hồ sơ xử lý.
  • Giai đoạn tiếp nhận thông tin và khiếu nại: Điều 58 Luật Cạnh tranh (2004) và Điều 45 Nghị định 116/2005/NĐ-CP quy định nghĩa vụ cung cấp chứng cứ thuộc về bên khiếu nại. Quy định này tạo rào cản lớn đối với doanh nghiệp và người tiêu dùng do không đủ năng lực thu thập chứng cứ về hành vi lạm dụng hoặc thỏa thuận ngầm, dẫn đến việc bỏ qua hành vi vi phạm.
  • Giai đoạn điều tra: Thời hạn điều tra theo Luật 2004 (30 ngày điều tra sơ bộ, 300 ngày điều tra chính thức kể cả hai lần gia hạn) là quá ngắn so với tính chất phức tạp của các vụ việc HCCT vốn đòi hỏi các phân tích kinh tế chuyên sâu. Kinh nghiệm quốc tế (Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản) cho thấy các vụ việc phức tạp thường kéo dài từ 2 đến 5 năm và không bị giới hạn cứng nhắc.
  • Giai đoạn xử lý vụ việc: Thời hạn 30 ngày để Hội đồng xử lý ra quyết định mở phiên điều trần, trả hồ sơ hoặc đình chỉ là không khả thi đối với các hồ sơ vụ việc lạm dụng vị trí thống lĩnh lên tới hàng nghìn bút lục, đặc biệt khi các thành viên Hội đồng hoạt động kiêm nhiệm.
  • Giai đoạn giải quyết khiếu nại và vụ án hành chính: Theo quy định Luật 2004, nếu đương sự khởi kiện quyết định giải quyết khiếu nại của HĐCT ra Tòa án nhân dân cấp tỉnh tại nơi cư trú/trụ sở của bên khởi kiện, HĐCT phải phân tán nhân lực tham gia tố tụng tại nhiều địa phương khác nhau, gây cản trở hoạt động của cơ quan này.

Chương 4: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC HẠN CHẾ CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chương 4 xây dựng hệ thống định hướng và giải pháp cụ thể:

Định hướng hoàn thiện:

  • Đảm bảo tính tương thích với nguyên lý vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;
  • Tăng cường tính độc lập và thẩm quyền thực thi của cơ quan quản lý nhà nước về cạnh tranh;
  • Phân định rõ ràng giữa tố tụng giải quyết vụ việc HCCT và vụ việc cạnh tranh không lành mạnh;
  • Tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế phù hợp với điều kiện thể chế của Việt Nam.

Các giải pháp cụ thể:

  • Về thiết chế cơ quan cạnh tranh: Kiện toàn mô hình cơ quan cạnh tranh tập trung theo Luật Cạnh tranh (2018) — Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia (UBCTQG) — khắc phục sự phân tán giữa Cục QLCT và HĐCT; thiết lập chế độ làm việc chuyên trách cho các thành viên nhằm nâng cao chất lượng phán quyết.
  • Về cơ chế tiếp nhận và mở thủ tục điều tra: Bãi bỏ nghĩa vụ chứng minh bắt buộc của bên khiếu nại; chuyển đổi sang cơ chế tiếp nhận thông tin phản ánh từ mọi chủ thể thị trường, trao quyền chủ động cho cơ quan cạnh tranh tự khởi xướng điều tra với tư cách cơ quan bảo vệ lợi ích công.
  • Về thời hạn điều tra và xử lý: Sửa đổi quy định theo hướng linh hoạt hóa thời hạn điều tra vụ việc HCCT căn cứ vào độ phức tạp của hành vi vi phạm, tham khảo thông lệ các nước phát triển để tránh tình trạng kết luận vội vàng do áp lực thời gian.
  • Về giải quyết khiếu kiện hành chính: Quy định tập trung thẩm quyền xét xử các vụ án hành chính liên quan đến quyết định của UBCTQG tại các Tòa án nhân dân cấp cao ở các trung tâm lớn (Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh), tránh phân tán việc theo kiện ở nhiều Tòa án cấp tỉnh.
  • Xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành Luật Cạnh tranh (2018): Khẩn trương ban hành các nghị định hướng dẫn chi tiết về quy trình áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính, cơ chế phối hợp trong thu thập chứng cứ và quy trình giải quyết bồi thường thiệt hại liên thông giữa cơ quan cạnh tranh và Tòa án.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học pháp lý bao gồm:

  1. Về mặt lý luận: Hoàn thiện hệ thống cơ sở lý luận riêng biệt về thủ tục giải quyết vụ việc HCCT tách biệt với cơ sở lý luận chung về TTCT. Luận án làm rõ các khái niệm vụ việc HCCT, thủ tục giải quyết vụ việc HCCT; chỉ rõ bản chất pháp lý “lưỡng tính” của thiết chế cơ quan cạnh tranh; làm rõ các đặc trưng pháp lý (tính tràn bờ, sự kết hợp hành chính - tư pháp); và hệ thống hóa 3 nguyên tắc nền tảng (bảo đảm quyền khiếu nại/khởi kiện, bảo đảm quyền tranh tụng, bảo đảm quyền được xét xử công bằng).
  2. Về mặt thực tiễn: Đưa ra những phân tích, đánh giá toàn diện về thực trạng các quy định pháp luật liên quan tới từng giai đoạn cụ thể của quy trình giải quyết vụ việc HCCT (từ tiếp nhận thông tin, điều tra, mở phiên điều trần xử lý, giải quyết khiếu nại đến tố tụng hành chính tại Tòa án) dựa trên dữ liệu thi hành 12 năm của Luật Cạnh tranh (2004) và phân tích các điểm mới của Luật Cạnh tranh (2018).
  3. Về mặt giải pháp: Đề xuất hệ thống định hướng và các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thủ tục giải quyết vụ việc HCCT ở Việt Nam hiện nay, bao gồm việc hoàn thiện mô hình Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, đổi mới cơ chế chứng minh và kiến nghị phương án xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Cạnh tranh (2018).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế từ phạm vi nghiên cứu của luận án:

  • Luận án không đi sâu nghiên cứu thủ tục xin hưởng miễn trừ đối với thỏa thuận HCCT hoặc tập trung kinh tế;
  • Luận án không giải quyết thủ tục xử lý các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh;
  • Luận án không nghiên cứu thủ tục kiểm soát tập trung kinh tế và các vi phạm hành chính đơn thuần về tập trung kinh tế;
  • Luận án không bao gồm việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh dưới góc độ của pháp luật hình sự.

Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tập trung theo dõi, đánh giá thực tiễn thi hành Luật Cạnh tranh (2018) và hoạt động thực tế của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia sau khi luật chính thức có hiệu lực và các văn bản hướng dẫn thi hành được ban hành đầy đủ; nghiên cứu cơ chế giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh từ hành vi HCCT tại Tòa án.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với các nhóm đối tượng và mục đích cụ thể:

  • Cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước: Cung cấp luận cứ khoa học phục vụ việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật hướng dẫn thi hành Luật Cạnh tranh (2018), đặc biệt là Nghị định quy định chi tiết về quy trình điều tra, xử lý vụ việc HCCT và cơ cấu tổ chức của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia.
  • Cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Làm tài liệu tham khảo cho giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Quốc tế và Quản trị Kinh doanh khi nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật cạnh tranh và tố tụng kinh tế.
  • Đội ngũ luật sư và thẩm phán: Hỗ trợ việc nắm bắt các nguyên tắc tố tụng đặc thù, quyền bào chữa, quyền tiếp cận chứng cứ và cơ chế khởi kiện quyết định hành chính trong các vụ việc liên quan đến cạnh tranh.
  • Nội dung tham khảo trọng tâm: Chương 2 (khung lý luận về bản chất kinh tế - pháp lý và các nguyên tắc tố tụng) và Chương 3 (phân tích chi tiết những điểm nghẽn về thời hạn tố tụng và cơ chế phân bổ nghĩa vụ chứng minh).

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao cơ quan giải quyết vụ việc hạn chế cạnh tranh được xác định là thiết chế “lưỡng tính”?
Bản chất “lưỡng tính” thể hiện ở sự kết hợp giữa tính chất hành chính và tính chất tư pháp. Khi chủ động mở thủ tục điều tra thị trường hoặc thực hiện chức năng quản lý, cơ quan này hoạt động như một cơ quan hành chính nhà nước. Tuy nhiên, khi tiến hành phiên điều trần tranh tụng độc lập, đánh giá chứng cứ và đưa ra phán quyết có giá trị cưỡng chế thi hành, cơ quan này thực hiện chức năng tương tự như một cơ quan tài phán tư pháp.

2. Điểm khác biệt căn bản giữa thủ tục giải quyết vụ việc hạn chế cạnh tranh và vụ việc cạnh tranh không lành mạnh là gì?
Vụ việc cạnh tranh không lành mạnh thuộc phạm vi điều chỉnh của luật tư, bảo vệ lợi ích của đối thủ cạnh tranh cụ thể; cơ quan nhà nước chỉ thụ lý khi có đơn yêu cầu và nghĩa vụ chứng minh thuộc về bên khiếu nại. Vụ việc HCCT thuộc phạm vi điều chỉnh của luật công, xâm hại cấu trúc thị trường và lợi ích công cộng; cơ quan cạnh tranh có quyền chủ động khởi xướng điều tra và gánh vác nghĩa vụ chứng minh hành vi vi phạm tương tự như cơ quan công tố.

3. Kết quả xử lý các vụ việc hạn chế cạnh tranh trong 12 năm thực thi Luật Cạnh tranh (2004) tại Việt Nam ra sao?
Theo số liệu thống kê của Bộ Công Thương, từ khi Luật Cạnh tranh (2004) có hiệu lực năm 2005 đến năm 2017, cơ quan QLCT chỉ điều tra được 08 vụ việc HCCT, và HĐCT chỉ ban hành quyết định xử lý được 06 vụ việc. Thời gian xử lý trung bình kéo dài khoảng 03 năm cho mỗi vụ việc, cho thấy hiệu quả thực thi rất thấp.

4. Tại sao thời hạn điều tra theo Luật Cạnh tranh (2004) bị đánh giá là chưa hợp lý?
Luật Cạnh tranh (2004) quy định thời hạn điều tra sơ bộ 30 ngày và điều tra chính thức tối đa 300 ngày (kể cả 2 lần gia hạn). Đây là khoảng thời gian quá ngắn để thu thập tài liệu và thực hiện các phân tích kinh tế phức tạp đối với hành vi HCCT. Trong khi đó, kinh nghiệm quốc tế (như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản) cho thấy các vụ việc điều tra HCCT thường kéo dài từ 2 đến 5 năm tùy thuộc vào mức độ phức tạp của hồ sơ.

5. Nguyên tắc tranh tụng trong thủ tục giải quyết vụ việc hạn chế cạnh tranh bị hạn chế trong trường hợp nào?
Theo Điều 84 Nghị định 116/2005/NĐ-CP, nguyên tắc tranh tụng bị giới hạn công khai đối với các chứng cứ thuộc bí mật nhà nước, chứng cứ liên quan tới thuần phong mỹ tục, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh và bí mật đời tư của cá nhân theo yêu cầu chính đáng của các bên. Cơ quan cạnh tranh có quyền không công bố công khai các tài liệu này nhằm đảm bảo an toàn thông tin và phục vụ quá trình điều tra.

Kết luận

Luận án tiến sĩ đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận đặc thù của thủ tục giải quyết vụ việc HCCT với tính chất là một quy trình tố tụng hỗn hợp giữa hành chính và tư pháp thuộc phạm vi luật công. Thông qua việc phân tích thực trạng 12 năm thi hành Luật Cạnh tranh (2004), tác giả đã chỉ rõ những bất cập về mô hình tổ chức phân tán, gánh nặng nghĩa vụ chứng minh và sự hạn hẹp về thời hạn tố tụng dẫn đến hiệu quả xử lý vụ việc trên thực tế còn thấp. Trên cơ sở đối chiếu kinh nghiệm quốc tế và tinh thần của Luật Cạnh tranh (2018), luận án đã đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện nhằm kiện toàn Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, đổi mới quy trình điều tra - xử lý và hoàn thiện các quy định hướng dẫn thi hành nhằm nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam.