Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam, quyền đối với họ, tên là một trong những quyền nhân thân nền tảng, gắn liền với mỗi cá nhân từ khi sinh ra và được xác định theo họ, tên khai sinh. Thông qua họ và tên, cá nhân xác lập, thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự, đồng thời phân biệt bản thân với các chủ thể khác trong xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình sinh sống, các biến động về nhân thân, quan hệ gia đình, huyết thống hoặc các lý do khách quan và chủ quan khác làm phát sinh nhu cầu thay đổi họ, tên. Bộ luật Dân sự năm 2015 đã dành riêng Điều 27 và Điều 28 để ghi nhận quyền thay đổi họ và quyền thay đổi tên của cá nhân. Mặc dù hệ thống pháp luật đã tạo lập hành lang pháp lý tương đối toàn diện, song thực tiễn áp dụng tại nhiều địa phương trên cả nước—đặc biệt là khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa—vẫn phát sinh nhiều khó khăn, vướng mắc do quy định còn thiếu cụ thể, năng lực cán bộ tư pháp hộ tịch cơ sở chưa đồng đều và nhận thức của một bộ phận người dân còn chịu ảnh hưởng bởi tập quán cũ.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là phân tích, đánh giá các quy định pháp luật, điều kiện, trình tự, thủ tục thực hiện và hậu quả pháp lý của việc thực hiện quyền thay đổi họ, tên cá nhân; phát hiện những tồn tại, bất cập trong thực tiễn áp dụng; từ đó đề xuất định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành.

Để đạt được mục đích trên, khóa luận xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản nhất liên quan đến pháp luật về quyền thay đổi họ và tên của cá nhân (khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa, các trường hợp được thay đổi, trình tự, thủ tục và hậu quả pháp lý).
  2. Nghiên cứu, phân tích và đánh giá quy định pháp luật hiện hành về quyền thay đổi họ, tên dựa trên các văn bản pháp luật đã ban hành.
  3. Nghiên cứu, phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật về quyền thay đổi họ, tên tại một số tỉnh, thành trên cả nước để chỉ ra những khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân.
  4. Nghiên cứu, đề xuất quan điểm, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định pháp luật về quyền thay đổi họ, tên của cá nhân tại Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm: các lý thuyết khoa học pháp lý về họ, tên và quyền thay đổi họ, tên; hệ thống văn bản pháp luật dân sự và hộ tịch từ năm 1995 đến nay; các tài liệu khoa học chuyên khảo, luận văn, bài báo tạp chí; thực tiễn áp dụng quy định, các vụ việc và hồ sơ hộ tịch phát sinh trong thực tế.

Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Về nội dung: Tập trung vào vấn đề lý luận, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về quyền thay đổi họ, quyền thay đổi tên của cá nhân theo pháp luật dân sự Việt Nam.
  • Về không gian: Nghiên cứu pháp luật và thực tiễn áp dụng trên phạm vi toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, không giới hạn ở một địa phương riêng biệt.
  • Về thời gian: Khảo sát quá trình phát triển của các quy định pháp luật qua các thời kỳ Bộ luật Dân sự (1995, 2005, 2015) và Luật Hộ tịch; tập trung phân tích thực trạng từ khi Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng trên nền tảng lý luận về quyền nhân thân trong luật dân sự, dựa trên các quy định trọng tâm của Bộ luật Dân sự năm 2015 (từ Điều 25 đến Điều 39), đặc biệt là Điều 25 (khái niệm quyền nhân thân), Điều 26 (quyền có họ, tên), Điều 27 (quyền thay đổi họ), Điều 28 (quyền thay đổi tên) và Điều 34 (quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín). Tác giả đã tổng hợp và đưa ra khái niệm khoa học: "Quyền thay đổi họ, tên của cá nhân là một quyền nhân thân, cho phép các cá nhân có quyền chuyển đổi họ và tên cũ của mình thành họ và tên mới mà không làm thay đổi các quyền và nghĩa vụ pháp lý được xác lập theo họ, tên cũ và không thể chuyển giao cho người khác".

Khung pháp lý được tác giả đối chiếu và viện dẫn gồm có:

  • Hiến pháp năm 2013 (các quy định về quyền con người, quyền công dân).
  • Các Bộ luật Dân sự qua các thời kỳ: BLDS năm 1995 (Điều 29), BLDS năm 2005 (Điều 27), BLDS năm 2015 (Điều 26, 27, 28, 34).
  • Luật Hộ tịch năm 2014 (Điều 2, 3, 28) và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch.
  • Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (Điều 73 về đại diện cho con chưa thành niên, Điều 88 về xác định cha mẹ con).
  • Luật Trẻ em năm 2016 (Điều 13).
  • Các điều ước quốc tế: Tuyên ngôn của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1959, Công ước quốc tế về quyền trẻ em (khoản 1 Điều 7).

Phương pháp luận nghiên cứu dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  • Phương pháp phân tích và bình luận: Mổ xẻ nội dung các điều luật, quy định trong BLDS 2015, Luật Hộ tịch 2014 và văn bản hướng dẫn (sử dụng chủ yếu tại Chương 2).
  • Phương pháp chứng minh: Đưa ra các dẫn chứng thực tế, hồ sơ hộ tịch cụ thể để minh chứng cho các luận điểm.
  • Phương pháp điều tra, thu thập thông tin: Khảo sát, thu thập số liệu qua sách báo, tạp chí khoa học và các công trình nghiên cứu trước đây.
  • Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng để đưa ra các đề xuất hoàn thiện.
  • Phương pháp lịch sử: Phân tích tiến trình lập pháp về quyền nhân thân và quyền thay đổi họ, tên qua các bản Hiến pháp và Bộ luật Dân sự.

Nguồn dữ liệu sử dụng bao gồm các công trình nghiên cứu khoa học chuyên khảo (sách của tác giả Lê Trung Hoa năm 2004, 2005; bình luận khoa học của Nguyễn Văn Cừ và Trần Thị Huệ năm 2017; Nguyễn Minh Tuấn năm 2016; giáo trình của Đinh Văn Thanh năm 2019), luận văn thạc sĩ (Hoàng Ngọc Hưng năm 2012, Nguyễn Thị Minh Tâm năm 2013, Trương Thị Chang năm 2019), các bài báo trên Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, cùng tài liệu thực tiễn là hồ sơ thay đổi hộ tịch tại cơ quan tư pháp cơ sở (hồ sơ hộ tịch tại xã Phúc Lộc, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền thay đổi họ, tên của cá nhân

Chương 1 tập trung làm rõ các vấn đề lý luận mang tính nền tảng về họ, tên và quyền thay đổi họ, tên của cá nhân:

  • Khái quát về họ, tên: Cấu trúc họ tên người Việt Nam gồm Họ, Tên đệm và Tên chính. Họ có nguồn gốc Hán Việt (chữ "hộ"), thể hiện quan hệ huyết thống, tổ tiên và dòng họ. Khác với văn hóa phương Tây (họ đứng sau), họ của người Việt đứng đầu trong cụm tên. Tên đệm có chức năng phân biệt giới tính (như từ "Thị", "Văn"), phân biệt thứ bậc hoặc tăng tính thẩm mỹ. Tên chính là yếu tố cá biệt hóa cá nhân, có số lượng phong phú, được đặt theo tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc thiểu số của Việt Nam, không dùng chữ số hay ký tự đặc biệt.
  • Đặc điểm của quyền thay đổi họ, tên: Tác giả chỉ ra 4 đặc điểm cốt lõi:
    1. Gắn liền và không thể tách rời với các quy định pháp lý, chịu sự quản lý của nhà nước về mặt hộ tịch.
    2. Gắn liền với cá nhân xác định, mang tính chất phi tài sản và tuyệt đối không thể chuyển giao.
    3. Được xác lập trực tiếp trên cơ sở quy định pháp luật; mang tính chất quyền tuyệt đối (mọi chủ thể khác đều có nghĩa vụ tôn trọng).
    4. Được cơ quan quản lý nhà nước điều hành, kiểm soát nhằm đảm bảo tính công bằng, trật tự xã hội và tính pháp chế.
  • Mối liên hệ với các quyền nhân thân khác:
    • Với quyền được khai sinh: Quyền thay đổi họ, tên là quyền phái sinh; giấy khai sinh là căn cứ pháp lý để thực hiện và ghi nhận nội dung thay đổi.
    • Với quyền có họ, tên: Quyền có họ, tên là tiền đề, điều kiện tiên quyết để làm phát sinh quyền yêu cầu thay đổi họ, tên.
    • Với quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín: Quyền thay đổi họ, tên là công cụ pháp lý giúp cá nhân bảo vệ danh dự, nhân phẩm khi tên gọi cũ xấu xí, thô tục, gây nhầm lẫn hoặc trùng với đối tượng phạm tội.
  • Ý nghĩa của quyền thay đổi họ, tên: Đảm bảo quyền tự do dân sự của chủ thể; thể hiện mức độ văn minh và bình đẳng của xã hội; phòng ngừa hành vi vi phạm nhân thân; nâng cao nhận thức pháp lý; thúc đẩy bình đẳng giới (cho phép phụ nữ giữ hoặc đổi họ, hỗ trợ người chuyển giới thuộc cộng đồng LGBTQ+ khẳng định bản dạng giới).
  • Lược sử phát triển:
    • Lược sử tên gọi: Từ thế kỷ II trước Công nguyên (thời An Dương Vương, Cao Lỗ, Đào Nồi), người Việt đã có họ, tên. Qua thời gian, cấu trúc tên phát triển từ 2 tiếng sang nhiều tiếng. Khóa luận dẫn số liệu nghiên cứu của Lê Trung Hoa (2005): trước năm 1945, trong 448 nhân vật lịch sử chỉ có 01 người có họ tên 4 tiếng (bà Lương Thị Minh Nguyệt); đến năm 2005, trong mẫu khảo sát 370 nam giới có 48 người mang tên 4 tiếng (12,07%), và trong 260 nữ giới có 185 người mang tên 4 tiếng (71,15%).
    • Lược sử lập pháp: Trải qua các bản Hiến pháp (1946, 1959, 1980, 1992), quy định quyền nhân thân được mở rộng dần. Về luật thực định, Điều 29 BLDS 1995 lần đầu quy định quyền thay đổi họ, tên; Điều 27 BLDS 2005 bổ sung trường hợp xác định lại giới tính và dẫn chiếu pháp luật hộ tịch; BLDS 2015 thực hiện bước chuyển lớn khi tách thành 2 điều luật độc lập: Điều 27 (quyền thay đổi họ) và Điều 28 (quyền thay đổi tên).

Chương 2: Thực trạng pháp luật về quyền thay đổi họ, tên cá nhân

Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm pháp luật thực định điều chỉnh việc thay đổi họ của cá nhân theo BLDS 2015 và pháp luật hộ tịch:

  • Các trường hợp thay đổi họ (Điều 27 BLDS 2015): Khóa luận phân tích chi tiết 6 căn cứ pháp lý cho phép thay đổi họ:
    1. Thay đổi họ cho con đẻ từ họ của cha đẻ sang họ của mẹ đẻ hoặc ngược lại.
    2. Thay đổi họ cho con nuôi từ họ của cha/mẹ đẻ sang họ của cha/mẹ nuôi theo yêu cầu của cha/mẹ nuôi.
    3. Người con nuôi thôi làm con nuôi và người này hoặc cha/mẹ đẻ yêu cầu lấy lại họ theo cha/mẹ đẻ.
    4. Thay đổi họ cho con theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc của con khi xác định cha, mẹ cho con.
    5. Thay đổi họ của người bị lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống.
    6. Thay đổi họ theo họ của vợ/chồng trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài để phù hợp với pháp luật nước ngoài hoặc lấy lại họ trước khi thay đổi.
STT Căn cứ thay đổi họ (Điều 27 BLDS 2015) Chủ thể có quyền yêu cầu Lưu ý về điều kiện / thủ tục
1 Chuyển họ con đẻ từ cha sang mẹ hoặc ngược lại Cha đẻ, mẹ đẻ Cần có sự thỏa thuận của cả cha và mẹ; con từ đủ 9 tuổi phải đồng ý
2 Chuyển họ cho con nuôi sang họ cha/mẹ nuôi Cha nuôi, mẹ nuôi Thực hiện khi xác lập quan hệ nuôi con nuôi hợp pháp
3 Lấy lại họ cha/mẹ đẻ khi thôi làm con nuôi Người thôi làm con nuôi, cha/mẹ đẻ Phục hồi họ gốc khi chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi
4 Thay đổi họ khi xác định cha, mẹ cho con Cha đẻ, mẹ đẻ, người con Căn cứ trên quyết định/bản án công nhận quan hệ cha mẹ con
5 Người lưu lạc tìm lại nguồn gốc huyết thống Bản thân người lưu lạc Căn cứ trên chứng cứ chứng minh huyết thống gốc
6 Hôn nhân có yếu tố nước ngoài Người vợ hoặc chồng Theo quy định pháp luật của quốc gia người phối ngẫu
  • Dẫn chứng thực tiễn áp dụng:
    • Vụ việc tại xã Phúc Lộc, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn: Anh Đặng Văn Lanh và chị Bàn Thị Sơn (dân tộc Dao Tiên). Do tập quán ở rể, hai con sinh năm 2007 và 2010 ban đầu mang họ mẹ (họ Bàn). Sau đó, anh Lanh yêu cầu đổi họ cho hai con sang họ cha (họ Đặng). Hồ sơ hợp lệ được UBND xã Phúc Lộc giải quyết theo thẩm quyền đối với trẻ dưới 14 tuổi (Hồ sơ hộ tịch số 01 ngày 01/10/2017).
    • Vụ việc tại quận Long Biên, TP. Hà Nội: Trường hợp chị Phùng Ngọc B có con với anh Lương Minh A nhưng trên giấy khai sinh ban đầu ghi tên người chồng hợp pháp của chị B. Sau khi chồng qua đời và chị B kết hôn với anh A, để đổi họ cho con sang họ Lương của anh A, thủ tục bắt buộc là phải yêu cầu Tòa án ra quyết định xác định quan hệ cha con trước khi làm thủ tục thay đổi hộ tịch.
  • Chủ thể và điều kiện theo độ tuổi:
    • Trẻ em dưới 9 tuổi: Việc thay đổi họ hoàn toàn do cha, mẹ quyết định và thể hiện trong tờ khai.
    • Người từ đủ 9 tuổi đến dưới 18 tuổi: Bắt buộc phải có sự đồng ý của chính người đó được ghi rõ trong tờ khai đăng ký thay đổi họ.
    • Người từ đủ 18 tuổi trở lên: Tự mình nộp hồ sơ yêu cầu thay đổi họ tại cơ quan có thẩm quyền mà không cần sự đồng ý của cha mẹ.
  • Trình tự, thủ tục đăng ký thay đổi họ: Theo Điều 28 Luật Hộ tịch 2014, người yêu cầu nộp tờ khai và giấy tờ làm căn cứ. Thời hạn giải quyết là 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ (trường hợp cần xác minh thì kéo dài thêm không quá 03 ngày làm việc). Thẩm quyền thuộc UBND cấp xã (đối với công dân Việt Nam cư trú trong nước dưới 14 tuổi) hoặc UBND cấp huyện (đối với người từ đủ 14 tuổi trở lên hoặc có yếu tố nước ngoài). Nội dung thay đổi được ghi vào Sổ hộ tịch và mặt sau bản chính Giấy khai sinh.
  • Đánh giá bất cập pháp luật: Điểm a khoản 1 Điều 27 BLDS 2015 quy định việc đổi họ cho con đẻ từ họ cha sang họ mẹ hoặc ngược lại nhưng không nêu rõ căn cứ cụ thể hay quy định rõ việc yêu cầu này cần sự thỏa thuận của cả hai bên cha mẹ hay chỉ cần một bên yêu cầu. Điều này dẫn đến sự không thống nhất giữa Điều 27 với khoản 2 Điều 26 BLDS 2015, Điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 và Điều 4, Điều 7 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, gây lúng túng cho cán bộ hộ tịch khi cha mẹ đã ly hôn và một bên tự ý yêu cầu đổi họ cho con nhằm cản trở quyền thăm nom của bên kia.

Chương 3: Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quyền thay đổi họ, tên của cá nhân

Chương 3 tổng kết các hạn chế trong áp dụng pháp luật, xác định nguyên nhân và đưa ra các định hướng, giải pháp hoàn thiện:

  • Những hạn chế, bất cập trong thực tiễn:
    • Tồn tại xung đột trong cách hiểu và áp dụng quy định giữa cơ quan tư pháp các cấp về việc có bắt buộc văn bản thỏa thuận của cả cha và mẹ khi ly hôn hay không.
    • Tình trạng người dân tại vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số đăng ký họ tên theo phong tục tập quán thiếu nhất quán, gây khó khăn khi cần điều chỉnh lại giấy tờ nhân thân.
    • Cơ chế phối hợp xác minh thông tin hộ tịch giữa các địa phương (nơi đăng ký ban đầu và nơi cư trú hiện tại) đôi khi còn chậm trễ, vượt quá thời hạn luật định.
  • Nguyên nhân dẫn đến hạn chế:
    • Nguyên nhân lập pháp: Thiếu văn bản quy phạm pháp luật dưới luật hướng dẫn chi tiết các tiêu chí, điều kiện tại Điều 27 và Điều 28 BLDS 2015.
    • Nguyên nhân tổ chức thực thi: Năng lực chuyên môn và kỹ năng nghiệp vụ của công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã còn hạn chế, chưa được bồi dưỡng thường xuyên.
    • Nguyên nhân xã hội: Ý thức pháp luật và hiểu biết về quyền nhân thân của một bộ phận người dân chưa cao.
  • Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật:
    • Ban hành Thông tư liên tịch hoặc Nghị định hướng dẫn chi tiết Điều 27, Điều 28 BLDS 2015; quy định rõ ràng trường hợp thay đổi họ cho con từ họ cha sang họ mẹ (hoặc ngược lại) bắt buộc phải có văn bản thỏa thuận có chữ ký của cả cha đẻ và mẹ đẻ, trừ trường hợp một bên mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị tước quyền làm cha/mẹ.
    • Quy định rõ tiêu chí "tên gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, danh dự, nhân phẩm" tại Điều 28 để tránh sự suy diễn tùy tiện của cơ quan đăng ký hộ tịch.
  • Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi:
    • Đối với cơ quan tư pháp: Chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ, tăng cường tập huấn chuyên môn cho cán bộ tư pháp hộ tịch cấp xã và cấp huyện.
    • Đối với công tác phối hợp: Ứng dụng công nghệ thông tin, liên thông cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử để rút ngắn thời gian xác minh.
    • Đối với công tác tuyên truyền: Đẩy mạnh phổ biến chính sách, pháp luật về quyền nhân thân đến từng thôn, bản, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã đạt được các kết quả cụ thể gắn liền với hệ thống dữ liệu thực chứng:

  • Hệ thống hóa toàn diện 6 căn cứ thay đổi họ tại Điều 27 BLDS 2015, đối chiếu trực tiếp với quy trình thủ tục tại Điều 28 Luật Hộ tịch 2014 và thời hạn giải quyết 03 ngày làm việc (gia hạn không quá 03 ngày khi xác minh).
  • Tổng hợp các mốc độ tuổi có ý nghĩa pháp lý trong thay đổi hộ tịch: dưới 9 tuổi (cha mẹ quyết định), từ đủ 9 tuổi đến dưới 18 tuổi (bắt buộc có sự đồng ý của trẻ), từ đủ 14 tuổi (thay đổi thẩm quyền từ UBND cấp xã lên UBND cấp huyện), và từ đủ 18 tuổi (độc lập thực hiện quyền).
  • Đưa ra số liệu đối chiếu lịch sử tên gọi 4 tiếng (trước 1945 chỉ có 1 trường hợp; năm 2005 đạt 12,07% ở nam và 71,15% ở nữ theo thống kê của Lê Trung Hoa).
  • Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định hướng dẫn thi hành BLDS 2015 nhằm giải quyết xung đột pháp lý về sự thỏa thuận của cha mẹ khi đổi họ cho con sau ly hôn.

Về mặt đóng góp khoa học, công trình đã kế thừa có chọn lọc các nghiên cứu đi trước (vốn phần lớn phân tích trên nền tảng BLDS 2005 như công trình của Hoàng Ngọc Hưng 2012, Nguyễn Thị Minh Tâm 2013), cập nhật và phân tích sâu sắc các điểm mới của BLDS 2015 khi tách biệt hai quyền tại Điều 27 và Điều 28 trên phạm vi toàn quốc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tập trung nghiên cứu trên nguồn dữ liệu thứ cấp và một số hồ sơ thực tiễn điển hình (tại Bắc Kạn, Hà Nội), chưa thực hiện khảo sát định lượng diện rộng trên quy mô 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do hạn chế về thời gian và nguồn lực nghiên cứu.

Hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài có thể mở rộng khảo sát thực tiễn áp dụng quyền thay đổi tên theo Điều 28 BLDS 2015 gắn với tiến trình xây dựng Luật Chuyển đổi giới tính, cũng như đánh giá tác động của việc vận hành Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và Đề án 06 đối với quy trình cải chính, thay đổi họ tên trên môi trường điện tử.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình làm tài liệu tham khảo nghiên cứu về quyền nhân thân.
  • Cán bộ, công chức làm công tác Tư pháp - Hộ tịch tại UBND cấp xã và Phòng Tư pháp cấp huyện tham khảo trong quá trình tiếp nhận, xử lý hồ sơ đăng ký thay đổi họ, tên.
  • Các nội dung có giá trị tham khảo cao gồm: Phần phân tích 6 trường hợp thay đổi họ tại Chương 2; phân tích xung đột giữa Điều 27 BLDS 2015 với Luật Hôn nhân và Gia đình; quy trình, biểu mẫu và thời hạn giải quyết thủ tục thay đổi hộ tịch.

Câu hỏi thường gặp

1. Việc thay đổi họ, tên của cá nhân có làm chấm dứt hay thay đổi các quyền, nghĩa vụ dân sự đã được xác lập theo họ, tên cũ không?
Không. Theo quy định tại khoản 3 Điều 27 và khoản 3 Điều 28 Bộ luật Dân sự 2015, việc thay đổi họ, tên của cá nhân không làm thay đổi hay chấm dứt các quyền, nghĩa vụ dân sự đã được xác lập theo họ, tên cũ. Quy định này nhằm ngăn ngừa các trường hợp thay đổi họ tên để trốn tránh trách nhiệm pháp lý hoặc nghĩa vụ tài sản đã phát sinh trước đó.

2. Trẻ em từ bao nhiêu tuổi thì việc thay đổi họ, tên bắt buộc phải có sự đồng ý của chính đứa trẻ?
Theo khoản 2 Điều 27 và khoản 2 Điều 28 Bộ luật Dân sự 2015, cùng khoản 1 Điều 7 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, trường hợp thay đổi họ, tên cho người từ đủ 09 tuổi trở lên bắt buộc phải có sự đồng ý của người đó và sự đồng ý phải được thể hiện rõ ràng trong Tờ khai đăng ký thay đổi hộ tịch.

3. Thẩm quyền đăng ký thay đổi họ, tên cho cá nhân được phân định giữa UBND cấp xã và UBND cấp huyện như thế nào?
Theo Luật Hộ tịch 2014, thẩm quyền đăng ký thay đổi họ, tên cho công dân Việt Nam cư trú ở trong nước dưới 14 tuổi thuộc về Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của cá nhân. Đối với công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên cư trú ở trong nước hoặc các trường hợp thay đổi hộ tịch có yếu tố nước ngoài, thẩm quyền giải quyết thuộc về Ủy ban nhân dân cấp huyện.

4. Khóa luận chỉ ra bất cập lớn nhất trong quy định về thay đổi họ cho con đẻ từ họ cha sang họ mẹ (hoặc ngược lại) là gì?
Bất cập lớn nhất là điểm a khoản 1 Điều 27 BLDS 2015 không quy định rõ căn cứ thay đổi và không nêu rõ việc thay đổi này chỉ cần một bên cha/mẹ yêu cầu hay bắt buộc phải có sự đồng thuận của cả hai bên. Điều này dẫn đến sự không tương thích với khoản 2 Điều 26 BLDS 2015 và Điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, gây vướng mắc lớn trong thực tiễn xử lý khi cha mẹ đã ly hôn.

5. Trong lịch sử Việt Nam, theo số liệu khảo sát được trích dẫn trong văn bản, tỷ lệ người mang họ tên 4 tiếng thay đổi như thế nào?
Theo số liệu nghiên cứu của tác giả Lê Trung Hoa (2005) được trích dẫn trong khóa luận: trước năm 1945, trong số 448 nhân vật lịch sử chỉ ghi nhận duy nhất 01 người mang tên 4 tiếng (chiếm tỷ lệ không đáng kể). Đến năm 2005, trong mẫu khảo sát 370 nam giới có 48 người mang họ tên 4 tiếng (chiếm 12,07%) và trong 260 nữ giới có tới 185 người mang họ tên 4 tiếng (chiếm tỷ lệ 71,15%).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Xuân Đạt đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực trạng quy định pháp luật dân sự Việt Nam về quyền thay đổi họ, tên của cá nhân. Thông qua việc phân tích chuyên sâu các quy phạm của Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Hộ tịch năm 2014 và dẫn chứng các vụ việc thực tế, tác giả đã chỉ rõ những điểm bất cập, khoảng trống lập pháp trong cơ chế thỏa thuận giữa cha mẹ khi thay đổi họ cho con. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất các nhóm kiến nghị có giá trị thực tiễn nhằm hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao năng lực thực thi cho đội ngũ cán bộ tư pháp hộ tịch các cấp.