Chương 1. Một số vân dé ly luận về quyên thay đổi ho, tên của cá nhân. Thực trang pháp luật về quyền thay đổi họ, tên của cá nhân. Thực tiễn áp dung va một số kiến nghị hoàn thiên pháp luật về quyển thay đôi họ, tên của cá nhân.
MỘT SÓ VAN ĐÈ LÝ LUẬN VE QUYEN THAY ĐỎI HỌ TÊN CỦA CÁ NHÂN. Khái quát chung về họ, tên của cá nhân Ho và tên là tai sản tinh than vô giá của mỗi cá nhân, là yêu tổ nhân thân quan trong để phân biệt giữa cá nhân nảy và cá nhân khác. Quyên nhân thân đối với họ va tên là một trong những quyền nhân thân mang tinh chất nên tảng, cơ bản, mang tinh cá nhân hoa từ đó lâm nên sự khác biệt giữa các cá nhân va cân được pháp luật bao vệ mot cách triệt dé. Vì 1é đó, khoản 1 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định “Moi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng không được lay bắt i i} do nào đề phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ nh nhau về các quyền nhân thân và tài sản”.
Nên tang cho sự bình đẳng này được lay từ Hiến pháp 2013 — luật góc cho mọi luật tại Việt Nam. Tại Hiện pháp năm 2013, các quyền tự do và bình đẳng về nhân thân déu được ghi nhân một cách chặt chế, khẳng định và coi đó là quyền cơ bản của công dân. Từ đó thầy được quyên nhân than là một trong những quyền dan sự mang ý nghia to lớn, quan trong, gắn bó mật thiết với mỗi cá nhân và được pháp luật ghi nhận vả bảo vệ. Hiện nay, tại Việt Nam, các quyên nhân thân của cá nhân được quy định từ Điều 25 đến Điều 39 trong BLDS năm 2015.
Theo đó, Điều 25 BLDS 2015 có quy đính rằng “guyén nhân thân được guy đinh trong Bộ luật này là quyền dan su gắn liền với mỗi cá nhân, Rhông thé chuyễn giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan guy định khác”1 Như vay quyên đối với họ, tên và quyên thay đổi họ, tên lả hai quyền nhân thân được pháp luật ghi nhận vả bảo hộ chặt chế trong hệ thông các quyên nhân thân. Cân nhân mạnh lại rằng, quyên có ho, tên la quyển nhân thân vô cùng quan trọng, không thể thiéu đối với mỗi cá nhân. Cá nhân có quyền này kế từ thời điểm người đó được sinh ra Khoản 1 điều 26 Bồ luật dân sự năm : Lê Thủ Giang (2022), Vể quyển: nhân thẩm đối với ho, tên cả nhân trong Bộ luật Dân sự năm 2015,tap chi Kiểm sit Số 10,tr 37-41 16 2015 có quy định: “Ca nhân có quyền có họ tên (bao gồm cả chữ đệm nếu có). Ho, tên của một người được xác định theo ho, tên khai sinh của người đó.” Vì vay ho và tên là các yếu tố nhân thân gắn liên với mỗi cá nhân, cái tên mỗi cá nhân được đặt cho sau khi sinh ra sẽ theo suốt cuộc đời, được dùng ngay từ khi sinh ra cho đến khi di hoc, đi lam, trong suốt sự nghiệp.
Từ đó thay được, quyên nhân thân liên quan đến họ và tên của mỗi cá nhân mang tính chất vô cùng quan trong, tiên quyết và là cơ sở vững chắc nhằm hình thành nên những quyền nhân thân khác và đảm bảo các quyên lợi của cá nhân Tên day đủ của người Việt Nam thường bao gồm ba thành phân chính là Ho, Tên đệm và Tên chính. Họ vồn chỉ một tập hợp người cùng tô tiên, cùng chung một dòng máu. Chẳng hạn như ho nội, ho ngoại. Về sau, ho được dùng để chỉ các tiếng đặt trước tên đêm vả tên chính, dùng chung cho những người cùng một họ để phân biệt với những người của họ khác.
Chẳng hạn như họ Phùng, họ Lê,. Từ họ là từ việt hóa từ Hán Việt hộ, do đó, thây được việc dùng ho của người Việt Nam là do ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc. Ho mang chức năng dùng dé phân biệt mét tập hợp người cùng tô tiên, dòng máu nay với một tap hợp người củng tổ tiên, dòng máu khác. Ho của mỗi cá nhân luôn đi cùng với tên chính và cả tên đệm nên nó góp phân làm cá nhân hoá, phân biệt giữa người nay với người khác.
Đơn giản như khi hai người có cùng tên đệm và tên chính nhưng khác họ thì chức năng cá thé hoá của họ rất rõ ràng. Vi dụ khi phân biệt Đỗ Thị Nga và Nguyễn Thị Nga thi người ta có thể gọi là Nga Đỗ vả Nga Nguyễn Bên cạnh đó, xét vé câu trúc thi ho của người Việt Nam luôn đứng ở vi trí thứ nhất trong họ tên. Khi đứng ở vi trí thứ hai, họ trở thành tên đệm, ví dụ như bó họ Đoàn, mẹ ho Tran, đặt tên con là Doan Trần Minh Phúc thì Tran ở day la tên đệm Xét về vị trí họ dat trong một cụm họ tên của người Việt thì có khác biệt hoàn toàn với vị trí họ đặt trong một cụm họ tên của người Châu Âu và Châu Mỹ. Ví dụ một người tên là Taylor Swift thi ở day, Taylor đứng đâu là tên con Swift đứng sau la ho.
Ngay cả trong giao tiếp, người Việt luôn gọi tên để dé phân biệt và xưng hộ, vi du gọi chi Hằng, cô Trang còn 17 với người Châu âu và Châu Mỹ thì họ lại goi ho để phân biệt, ví dụ như Mrs. Adkins hay Mr. Tom lại, ho của mỗi cá nhân là riêng biệt, dùng dé phân biệt và thé hiện dong máu, gốc gác của mỗi cá nhân. Bên cạnh đó, ho là căn cứ, dau hiệu dé phân biệt giữa cá nhân nay và cá nhân khác.
Xét về mặt văn hoa thì họ thé hiện lịch sử hình thành, phát triển của một tập hơp những cá nhân có cùng dòng máu, huyết thông Cuối cùng, về mặt pháp ly, ho mang ý nghĩa quan trong trong công tác quan lý hộ tich va những quyên dân sự phat sinh liên quan đến ho va tên của cá nhân. Tên đệm hay còn gọi là tên lót lả yêu té xen giữa họ vả tên chính. Tên đêm la thành tô phụ, nên có hay không cũng không quan trong ví dụ như: Doan Phương, Nguyễn Ngoc Linh. Trước đây phan lớn tên đệm lả từ đơn tuy nhiên hiện tại, có rất nhiều tên đệm phức xuất hiện chẳng hạn như Nguyễn Võ Anh Nguyên, Hà Vũ Huy Phong, Nguyễn Lân Thái Trương.
Xét về chức năng thì tên đệm có chức năng phân biệt giới tính Vi dụ như từ “Thị” trong tên đệm có tính nữ rất cao và chức năng phân biệt giới tính nữ rố ràng. Ngoài ra tên đệm còn có chức năng phân biệt bô phận, phân biệt thứ bậc trong gia đình, thé hệ trong dong họ va chỉ môi quan hệ giữa các thé hé trong gia đình. Cuối củng tên đệm có chức năng tao sự tham mỹ ví dụ như Bạch, Bich, Xuân. Tên chính là tên gọi của từng ca nhân, dùng để phân biệt cá nhân này va cá nhân khác.
Tên chính của người Việt Nam thường được đứng cuối cùng trong môt cum họ, tên. Cũng có mot vải trường hợp đặc biệt, tên chính và tên đệm được hoán vị cho nhau. Ở Việt Nam, tuy theo từng vùng miễn dân tôc có những phong tục, quy định khác nhau vệ thời han, lễ nghi khi đặt tên cho con. Xét về đặc điểm tên chính của người Việt Nam có những đặc điểm như sau.
Thứ nhất, cha mẹ đặt tên chinh bao giờ cũng có sự lựa chọn va có lý do. Người Việt Nam quan niệm tên chính là một bô phân gắn chặt với cá nhân mang nó. ? Lê Trưng Hoa (2004), Ho và rên người Việt Nem, NXB. Khoa học số hội, Ha Nội, tr.
7-10 18 Chính vi vay, trước khi đặt tên, cha mẹ thường lựa chọn rất kỹ và căn cứ vảo đặc điểm, phái tính của đứa trẻ, ảnh của gia định minh, quê hương, dong ho, tước mong, ước nguyện của cha mẹ dé đặt tên cho con chứ không thé tuỳ tiện đặt. Thứ hai, sô lượng của tên chinh rat phong phú. So sánh với ho và tên đêm thì sô lượng tên chính phong phú hơn rất nhiều. Xét về nguyên tắc thi từ nao trong Tiếng Việt cũng có thể được dùng làm tên chính nhưng để tránh những điều xui rủi, không may mắn thì những từ mang tinh chat den đủ: hay bệnh tat hầu như không bao giờ được dùng trong tên chính như đủi, củi, nạn, ngục, tù.
Cuôi cùng, tên của cá nhân hay công dân tai Việt Nam phải bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam, không đặt tên bằng sô, bằng ký tự mà không phải chữ. Việc đặt tên bị hạn ché trong trường hợp xâm phạm đến quyên, lợi ích hop pháp của người khác hoặc trai với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự. Cá nhân xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự theo ho, tên của mình. Khái niệm, đặc điểm về quyền thay đôi họ, tên của cá nhân 1.
Khái niệm về quyén thay đôi họ, tên của cá nhân Họ và tên là một phân vô củng thiết yêu tạo nên bản sắc của mỗi cá nhân và đóng vai trò quan trọng trong đời sông xã hội của mỗi người. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của lịch sử, quyền thay đổi ho, tên cá nhân đã trai qua nhiều sự biến đổi, chịu ảnh hưởng bởi các yếu tô văn hóa, zã hội va cả pháp luật. Theo đó, vào thời ky cỗ dai, trong các nén văn minh Ai Cap, Lưỡng Hà, HyLạp và La Mã, việc thay đổi ho va tên của cá nhân thường bị hạn chế vả chỉ được phép thay đôi trong những trường hợp đặc biệt ví du như kết hôn, nhân nuôi con hoặc khi một ca nhân trở thành nô lệ, khi đó người chủ nô sẽ thay đổi tên của người nô lệ đó dé phân biệt đẳng cap và dễ nhận diện. Ly do của sự hạn chế này xuất phát từ quan niệm của người xưa về ho và tên giông như mat biểu tượng của gia đính, dong tộc va cả vi trí xã hội.
Vi du như ở Ai Cập cổ đại, họ * Lê Trung Hoa (2005), Ho và tên người Việt Nam, NXB. Khoa học số hội, Ha Nội, tr. 12-14 19 của một người được xem như là một phân linh hôn của con người đó do đó việc thay đổi ho là điều cam ky và có ảnh hưởng xâu đến phân linh hồn bên trong con người.