Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỦ TỤC ĐĂNG KÝ VÀ THẨM TRA DỰ ÁN ĐẦU TƯ Trong tiến trình phát triển của nền kinh tế thế giới, nhiều quốc gia đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế của mình. Những quốc gia này đã có sự đầu tư rất lớn vào sản xuất và khai thác các dạng tài nguyên thiên nhiên. Khi trình độ phát triển kinh tế đạt đến mức cao, nhu cầu về vốn ở trạng thái bão hoà, dư thừa, cơ hội đầu tư ít, chi phí cao, khi đó các quốc gia có nhu cầu đầu tư vào các quốc gia trên thế giới, nhằm tận dụng những lợi thế về lao động và tài nguyên thiên nhiên, thị trường của những nước đó. Mặt khác, các quốc gia có những lợi thế đó, lại là những nước đang phát triển, có nhu cầu về vốn.
Do đó vấn đề đầu tư không chỉ diễn ra ở mỗi quốc gia mà còn có sự hợp tác đầu tư giữa các quốc gia với nhau. Vậy thế nào là đầu tư và Luật đầu tư là gì? Chúng ta sẽ đi sâu vào tìm hiểu. Đầu tư và pháp luật về đầu tư 1. Những nhận thức cơ bản về đầu tư 1.
Khái niệm về đầu tư Cho đến nay, đầu tư không phải là một khái niệm mới đối với nhiều người, nhất là đối với những người hoạt động trong lĩnh vực kinh tế xã hội. Tuy nhiên, thuật ngữ này được hiểu rất khác nhau. Có người cho rằng: đầu tư là phải bỏ một cái gì đó vào một việc nhất định để thu lại một lợi ích trong tương lai. Nhưng cũng có người quan niệm đầu tư: là các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận.
Theo cách hiểu phổ thông, thì khái niệm đầu tư được hiểu là việc: “ bỏ nhân lực, vật lực, tài lực vào công việc gì, trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế xã hội”[36] 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong khoa học kinh tế, đầu tư được quan niệm là hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại, nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn những nguồn lực đã sử dụng để đạt được những kết quả đó.[37] Đầu tư là nhân tố không thể thiếu để xây dựng và phát triển kinh tế là chìa khoá của sự phát triển kinh tế xã hội. Các nguồn lực được sử dụng để đầu tư có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, trí tuệ. Những kết quả sẽ đạt được đó, có thể là sự tăng thêm các tài sản chính (tiền vốn) tài sản vật chất (nhà máy, đường xá, bệnh viện, trường học.) là tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn quản lý khoa học - kỹ thuật.) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất lao động cao hơn trong nền sản xuất xã hội. Trong cơ chế thị trường, hoạt động đầu tư có thể do những chủ thể khác nhau tiến hành và ngày càng phong phú và đa dạng cả về tính chất lẫn mục đích.
Tuy vây, mọi hoạt động đầu tư suy cho cùng đều nhằm mang lại lợi ích xác định, đó chính là sự tăng thêm các nguồn lực tiền vốn tài sản… Dưới góc độ pháp lý, đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn, tài sản theo các hình thức và cách thức do pháp luật qui định để thực hiện hoạt động, nhằm mục đích lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội khác. Hoạt động đầu tư có thể có tính chất kinh doanh (thương mại) hoặc phi thương mại. Trong khoa học pháp lý cũng như thực tiễn xây dựng chính sách pháp luật về đầu tư, hoạt động đầu tư chủ yếu được đề cập đến là hoạt động đầu tư với bản chất là “ sự chi phí của cải vật chất nhằm mục đích làm tăng giá trị tài sản hay tìm kiếm lợi nhuận” Ở Việt Nam, trước khi ban hành Luật đầu tư 2005, khái niệm đầu tư kinh doanh chưa được định nghĩa thống nhất trong các văn bản pháp luật. Luật khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) ngày 20 tháng 05 năm 1998 và Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ban hành năm 1996 và 2000 không có định 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghĩa về đầu tư nói chung mà thay vào đó là khái niệm đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Luật đầu tư 2005 với phạm vi điều chỉnh là hoạt động đầu tư nhằm mục đích kinh doanh đã đưa ra định nghĩa: “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư.” Khoản 1 điều 3 Luật đầu tư 2005. Luật này còn có sự phân biệt về thuật ngữ giữa đầu tư và hoạt động đầu tư, theo đó hoạt động đầu tư được hiểu: “ là hoạt động của nhà đầu tư trong quá trình đầu tư bao gồm các khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lý dự án đầu tư” Khoản 7 điều 3 Luật đầu tư 2005. Phân loại đầu tư Dựa trên những tiêu chí khác nhau, người ta có thể phân chia đầu tư thành các loại khác nhau, việc phân loại hoạt động đầu tư là cần thiết, nhằm lựa chọn các giải pháp kinh tế và pháp lý thích hợp, thúc đẩy và tăng cường hiệu quả đầu tư cũng như hiệu quả quản lý nhà nước về đầu tư. Từ phương diện pháp lý có thể phân loại hoạt động đầu tư dựa trên những yếu tố sau: - Căn cứ vào mục đích đầu tư có thể chia đầu tư thành: đầu tư phi lợi nhuận và đầu tư kinh doanh.
+ Đầu tư phi lợi nhuận: là việc sử dụng các nguồn lực để thực hiện các hoạt động không nhằm mục tiêu thu lợi nhuận. Ví dụ: Nhà nước đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng để phục vụ cho nhân dân. + Đầu tư kinh doanh: là hoạt động đầu tư sử dụng các nguồn lực để kinh doanh thu lợi nhuận. - Căn cứ vào tính chất quản lý của nhà đầu tư với vốn đầu tư có thể chia đầu tư thành đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Đầu tư trực tiếp: là hoạt động đầu tư trong đó người bỏ vốn đầu tư trực tiếp tham gia quản lý các hoạt động đầu tư mà không có sự tách bạch giữa người bỏ vốn và người quản lý. Theo Luật đầu tư 2005, đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Đầu tư trực tiếp gồm có: đầu tư trực tiếp trong nước (là việc các cá nhân tổ chức trong nước bỏ vốn ra để kinh doanh theo hình thức pháp luật qui định) và đầu tư trực tiếp nước ngoài (là hoạt động đầu tư do các tổ chức và cá nhân nước ngoài tự mình hoặc cùng với tổ chức, cá nhân của nước sở tại bỏ vốn vào một đối tượng nhất định, trực tiếp quản lý và điều hành để thu lợi trong kinh doanh). Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài thường được tiến hành thông qua các dự án - gọi là dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Như vậy, đầu tư trực tiếp nước ngoài là một loại quan hệ kinh tế có nhân tố nước ngoài thông qua việc di chuyển nguồn lực đầu tư trên phạm vi quốc tế với mục đích kinh doanh thu lợi nhuận. + Đầu tư gián tiếp: là hình thức đầu tư mà ở đó nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Như vậy, đầu tư gián tiếp không cần có sự tham gia quản lý doanh nghiệp, các khoản thu nhập chủ yếu thông qua các hình thức mua chứng khoán, cho vay, cho thuê… - Căn cứ vào nguồn vốn đầu tư, gồm có đầu tư trong nước và đầu tư ngoài nước. + Đầu tư trong nước: là việc bỏ vốn vào sản xuất kinh doanh tại Việt Nam của các tổ chức công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài cư trú lâu dài tại Việt Nam.
Theo Luật đầu tư 2005, đầu tư trong nước là việc nhà đầu tư trong nước bỏ vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Đầu tư nước ngoài (hay còn gọi là đầu tư quốc tế) là sự di chuyển tài sản như vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý…từ nước này sang nước khác nhằm mục đích thu lợi nhuận cao trên phạm vi toàn cầu. Thực tiễn điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động đầu tư nước ngoài còn có sự phân biệt giữa đầu tư từ nước ngoài vào và đầu tư ra nước ngoài. Theo Luật đầu tư 2005, đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư, còn đầu tư ra nước ngoài là việc nhà đầu tư đưa vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác từ Việt Nam ra nước ngoài để tiến hành hoạt động đầu tư, khoản 12,14 Điều 3 Luật đầu tư 2005.
Các hình thức đầu tư Hình thức đầu tư chính là các cách thức mà chủ đầu tư sử dụng để tiến hành đầu tư theo qui định của pháp luật. Luật đầu tư 2005 chia hình thức đầu tư thành hai loại là hình thức đầu tư trực tiếp và hình thức đầu tư gián tiếp. Các hình thức đầu tư trực tiếp: + Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư như: thành lập doanh nghiệp tư nhân, Công ty TNHH một thành viên, hộ kinh doanh cá thể. + Thành lập góp vốn vào tổ chức kinh tế có sự liên kết giữa nhiều nhà đầu tư như: thành lập Công ty TNHH hai thành viên trở lên, Công ty cổ phần, tổ hợp tác, hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã.
+ Đầu tư thông qua hợp đồng hợp tác kinh doanh (hợp doanh): là hình thức đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giao kết giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận mà không thành lập pháp nhân. Các bên hợp doanh thực hiện hoạt động kinh doanh với tư cách pháp lý của mình thay vì thành lập ra một pháp nhân kinh tế mới. Ví dụ: Hợp đồng hợp doanh của Tổng công ty than Việt Nam. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hợp đồng hợp tác kinh doanh (2/1999) giữa Tổng công ty than Việt Nam (VINACOAL) và công ty CAVICO Ltd của Mỹ và Canada khai thác than tại mỏ than núi Béo (Quảng Ninh).