Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚ C NGOÀ I VÀO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP 1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và vai trò của nó trong phát triển công nghiệp 1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài: Khái niệm, đặc trưng và các hình thức 1. Khái niệm Đầu tư nước ngoài là một trong những hình thức cơ bản của kinh tế quốc tế gắn liền với sự di chuyển vốn từ nước này sang nước khác.
Đầu tư nước ngoài xuất hiện trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản độc quyền, mà Lênin gọi là xuất khẩu tư bản và được coi là một trong những đặc điểm của chủ nghĩa tư bản độc quyền. Ngày nay giao lưu kinh tế quốc tế ngày càng phát triển, việc dịch chuyển các dòng vốn đầu tư giữa các nước ngày càng mạnh mẽ và đa dạng, không chỉ các nước tư bản phát triển mà cả các nước đang phát triển cũng xuất khẩu tư bản, và hiện tượng này được gọi là đầu tư nước ngoài. Đầu tư nước ngoài là sự di chuyển vốn đầu tư sang lãnh thổ của một nước (nước nhận đầu tư) và được thực hiện dưới các hình thức như thành lập công ty hay một doanh nghiệp, mua cổ phiếu và hình thức góp vốn khác: Trái phiếu, giấy ghi nợ, các quyền theo hợp đồng tài sản hữu hình và tài sản vô hình, quyền sở hữu trí tuệ. Đầu tư nước ngoài gồm 2 hình thức là đầu tư trực tiếp (đầu tư các hoạt động sản xuât kinh doanh nhằm thu lợi nhuận và các lợi ích khác) đầu tư gián tiếp (cung cấp tín dụng, cho vay, đầu tư vào thị trường chứng khoán…).
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là loại hình di chuyển vốn giữa các nước, trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn. FDI là một trong những hình thức đầu tư chủ yếu của hoạt động đầu tư quốc tế. Theo Quỹ tiền tệ quốc tế IMF, FDI (Foreiga Direct investment) được định nghĩa là: 7 Một khoản đầu tư với những quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chức trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác, mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó [46, tr. Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đưa ra định nghĩa về FDI như sau: FDI xẩy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó, phương tiện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.
Trong phần lớn trường hợp cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó nhà đầu tư thường hay gọi là "Công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "Công ty con" hay "chi nhánh Công ty" [50]. Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đưa ra khái niệm "một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp là một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân trong đó nhà đầu tư trực tiếp sở hữu ít nhất 10% cổ phiếu thường hoặc có quyền biểu quyết, điểm mấu chốt của đầu tư trực tiếp là chủ định thực hiện quyền kiểm soát công ty" [46 tr. Tuy nhiên không phải tất cả quốc gia nào cũng đều sử dụng mốc 10% làm mốc xác định FDI.
Trong thực tế có những trường hợp tỷ lệ sở hữu tài sản trong doanh nghiệp của chủ đầu tư nhỏ hơn 10% nhưng họ vẫn được quyền điều hành quản lý doanh nghiệp, trong khi nhiều lúc lớn hơn nhưng vẫn chỉ là người đầu tư gián tiếp. Theo Luật đầu tư nước ngoài năm 2005 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì: "Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư” [31, tr.10] và đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư [31, tr. Từ những khái niệm trên luận văn đi đến thống nhất với khái niệm như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một nước đưa vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào vào quốc gia nào đó để có 8 được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của mình. Các đặc trưng chủ yếu của FDI Thứ nhất, FDI gắn liền với việc di chuyển tiền và tài sản giữa các quốc gia trên thế giới nó bao gồm tài sản hữu hình (máy móc thiết bị, nguyên vật liệu) và tài sản vô hình (bí quyết, sáng chế, kiểu dáng, nhãn hiệu, kỹ năng quản lý).
Hoạt động FDI không chỉ là sự di chuyển vốn thuần tuý mà còn bao gồm cả hoạt động chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý, cơ chế bảo hộ quyền sở hữu của nhà đầu tư. Do đó, với từng loại tài sản khác nhau đòi hỏi những nước tiếp nhận đầu tư phải có cơ chế chính sách bảo hộ quyền của chủ đầu tư sao cho phù hợp với tính chất và đặc điểm của từng loại. Thứ hai, FDI thường được thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới, mua toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc mua cổ phiếu để thôn tính hoặc sáp nhập các doanh nghiệp lại với nhau. Thứ ba, quyền quản lý FDI phụ thuộc vào mức độ góp vốn của chủ đầu tư, theo đó, FDI sẽ là người chủ sở hữu hoàn toàn hoặc đồng chủ sở hữu với một tỷ lệ góp vốn nhất định, đủ mức khống chế và trực tiếp tham gia quản lý hoạt động của doanh nghiệp.
Thứ tư, thông qua FDI, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ, kinh nghiệm quản lý, mạng lưới marketing rộng lớn. Các yếu tố này có vai trò quan trọng đối quá trình CNH, HĐH ở các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng. Thứ năm, chủ thể của FDI chủ yếu là các công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia. Đây là những tập đoàn có hệ thống các chi nhánh sản xuất ở nước ngoài, có tiềm lực lớn về vốn, công nghệ, nhãn hiệu sản phẩm có uy tín và danh tiếng trên toàn cầu, đội ngũ các nhà quản lý có trình độ cao, có khả năng điều hành các hoạt động sản xuất và phân phối trên toàn cầu, có năng lực cạnh tranh cao.
Hiện nay các công ty đa quốc gia nắm giữ khoảng 90% lượng FDI trên thế giới. 9 Thứ sáu, FDI đảm bảo cho nhà ĐTNN tham gia kiểm soát, điều hành quá trình đầu tư và kinh doanh của doanh nghiệp. Việc trực tiếp điều hành và quản lý, trực tiếp ra quyết định đầu tư là điều kiện để các nhà đầu tư thực hiện chiến lược kinh doanh một cách chủ động và tối ưu. Tuy nhiên, trên thực tế lại thường xảy ra sự không ăn khớp giữa mục tiêu thu hút FDI của nước tiếp nhận đầu tư với chiến lược kinh doanh của nhà ĐTNN.
Nếu sự bất cân xứng ngày càng lớn thì hiệu quả đầu tư đạt được sẽ càng thấp. * Đầu tư trực tiếp nước ngoài còn có những đặc điểm khác so với đầu tư gián tiếp, thể hiện ở những điểm dưới đây: (1) ) FDI là loại vốn đầu tư chủ yếu có thời hạn dài. Vốn FDI là nguồn vốn chủ yếu trong vốn đầu tư nước ngoài và là nguồn vốn dài hạn nên không dễ rút đi trong thời gian ngắn kể cả trường hợp bên ngoài khủng hoảng thì nó chỉ vào ít hơn chứ không bị rút ra. Bởi vậy nước sở tại nhận được nguồn vốn lớn bổ sung cho vốn đầu tư trong nước trong một thời gian dài mà không phải lo trả nợ.
Đây là đặc điểm phân biệt FDI với đầu tư gián tiếp (protffolioinvestment) đầu tư gián tiếp thường là các dòng vốn có thời gian hoạt đông ngắn và có thu nhập thông qua cung cấp tín dụng, việc mua trái phiếu chứng khoán (cổ phiếu hoặc trái phiếu). (2) Chủ đầu tư có quốc tịch nước ngoài: Đặc điểm này có liên quan đến khía cạnh về xuất cảnh, luật pháp, phong tục tập quán… đây là các yếu tố làm tăng thêm tính rủi ro và chi phí đầu tư của các nhà đầu tư. (3) Chủ sở hữu vốn trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình sản xuất kinh doanh. Việc phân chia thành viên hội đồng quản trị, việc điều hành quá trình sử dụng vốn tuỳ thuộc vào tỷ lệ góp vốn.
(4) Vốn FDI không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư nước ngoài dưới hình thức vốn pháp định (hoặc vốn điều lệ) mà nó còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai và mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư trích từ lợi nhuận thu được trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Vấn đề cần lưu ý đối với các nhà quản lý là khi tính lượng vốn FDI thu hút được chỉ tính phần vốn do bên ngoài đưa vào. Do vậy, trong các dự án 10 liên doanh với nước ngoài, vốn FDI của dự án chỉ tính phần vốn của đầu tư nước ngoài và phần vốn doanh nghiệp liên doanh vay nước ngoài. (5) Vốn FDI là của tư nhân nên ít chịu sự chi phối của chính phủ nước đầu tư, đặc biệt ít bị phụ thuộc vào mối quan hệ chính trị giữa nước chủ đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư so với các hình thức di chuyển vốn quốc tế khác.
Một số hình thức FDI chủ yếu Thứ nhất, hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh, hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức được đầu tư ký kết giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia tài sản mà không thành lập pháp nhân mới [31, tr. Thời hạn hợp đồng do các bên thoả thuận và có quân có thẩm quyền của nước nhận đầu tư chuẩn y. Hợp đồng hợp tác kinh doanh rất đa dạng, nhưng không còn đòi hỏi vốn lớn, thời gian hợp đồng thường không dài nên những nhà đầu tư có tiềm năng không lớn thường chọn hình thức này.