Hoàn thiện công tác thu chi ngân sách nhà nước tỉnh Thanh Hoá thời đại dịch Covid-19

Phân tích thực trạng thu chi ngân sách tỉnh Thanh Hóa giai đoạn Covid-19. Đánh giá ảnh hưởng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác hiệu quả.

Chuyên ngành

Tài chính công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2022

61
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở lý thuyết về thu chi ngân sách địa phương

Thu chi ngân sách là hoạt động quan trọng trong quản lý tài chính công tại các địa phương. Ngân sách địa phương (NSĐP) đóng vai trò then chốt trong việc phân bổ nguồn lực tài chính cho các hoạt động phát triển kinh tế xã hội. Quản lý ngân sách nhà nước được thực hiện thông qua hệ thống phân cấp rõ ràng, giúp tối ưu hóa hiệu quả sử dụng ngân sách. Các yếu tố tác động đến công tác thu chi ngân sách bao gồm cả những nhân tố khách quan (tình hình kinh tế, chính sách tiền tệ) và nhân tố chủ quan (năng lực cán bộ, chính sách địa phương). Hiểu rõ những yếu tố này giúp cơ quan quản lý ngân sách đưa ra những quyết định hợp lý và bền vững.

1.1. Khái niệm ngân sách địa phương và tầm quan trọng

Ngân sách địa phương là tập hợp các khoản thu và chi tài chính của các cơ quan hành chính địa phương. Nó phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng và an ninh tại địa bàn. Quản lý NSĐP hiệu quả giúp tăng cường năng lực tài chính địa phương, thúc đẩy phát triển bền vững và nâng cao chất lượng dịch vụ công cộng cho cộng đồng địa phương.

1.2. Các yếu tố tác động đến công tác thu chi ngân sách

Công tác thu ngân sách chịu ảnh hưởng từ tình hình kinh tế xã hội, chính sách thuế và khả năng quản lý của địa phương. Chi ngân sách phụ thuộc vào nhu cầu phát triển, ưu tiên chính sách và năng lực tổ chức. Cả hai yếu tố khách quan lẫn chủ quan đều cần được xem xét để đảm bảo hiệu quả quản lý ngân sách địa phương.

II. Thực trạng thu chi ngân sách Thanh Hoá trước dịch Covid 19

Tỉnh Thanh Hoá là một tỉnh kinh tế trọng điểm ở Bắc Trung Bộ với nền tảng kinh tế nông - lâm nghiệp kết hợp công nghiệp. Trong giai đoạn 2017-2019, thu ngân sách Thanh Hoá có xu hướng tăng trưởng ổn định nhờ vào sự phát triển của các khu công nghiệp và doanh nghiệp địa phương. Chi ngân sách địa phương tập trung vào các lĩnh vực giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng và an sinh xã hội. Tuy nhiên, tỉnh vẫn gặp phải những thách thức trong việc cân bằng thu chi ngân sách, đặc biệt là khi đối mặt với nhu cầu phát triển ngày càng tăng. GRDP bình quân đầu người của tỉnh cũng có sự tăng trưởng tích cực, tạo điều kiện cải thiện thu ngân sách tỉnh Thanh Hoá.

2.1. Tình hình thu ngân sách địa phương giai đoạn 2017 2019

Thu ngân sách Thanh Hoá trong ba năm 2017-2019 đạt mức tăng trưởng trung bình 8-12% hàng năm. Các nguồn thu ngân sách chính bao gồm thuế thu nhập, thuế doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng và các khoản phí lệ phí. Cấu trúc thu ngân sách phản ánh sự đa dạng hóa của nền kinh tế địa phương với sự phát triển của các ngành công nghiệp.

2.2. Cấu trúc chi ngân sách và những thách thức quản lý

Chi ngân sách Thanh Hoá được chia thành hai nhóm chính: chi thường xuyên (lương, điện nước, duy tu) và chi đầu tư phát triển (xây dựng cơ sở hạ tầng). Quản lý chi ngân sách địa phương phải cân bằng giữa các nhu cầu cấp bách và lâu dài, đồng thời đảm bảo hiệu quả sử dụng nguồn lực công.

III. Tác động của dịch Covid 19 đến thu chi ngân sách Thanh Hoá

Dịch Covid-19 đã tạo ra những thách thức chưa từng có đối với quản lý ngân sách ở các địa phương, trong đó có tỉnh Thanh Hoá. Thu ngân sách giảm do tình hình kinh doanh khó khăn, các doanh nghiệp cắt giảm hoạt động sản xuất. Chi ngân sách phải tăng lên để hỗ trợ y tế, phòng chống dịch bệnh và hỗ trợ các nhóm người bị ảnh hưởng. Công tác thu chi ngân sách Thanh Hoá trong thời kỳ này phải thích ứng nhanh chóng với những thay đổi bất ngờ. Mục tiêu chính là duy trì sự ổn định tài chính địa phương trong khi đáp ứng các nhu cầu cấp bách của cuộc chống dịch. Hiệu quả quản lý ngân sách phụ thuộc vào khả năng điều hành linh hoạt và quyết định đúng đắn từ các cơ quan chủ trì.

3.1. Ảnh hưởng lên thu ngân sách và nguồn thu chính

Dịch Covid-19 làm thu ngân sách Thanh Hoá giảm khoảng 15-20% so với dự tính. Các doanh nghiệp ngừng hoạt động hoặc hoạt động với công suất thấp dẫn đến giảm công nợ thuế. Cấu trúc thu ngân sách bị thay đổi khi các ngành dịch vụ, du lịch suy giảm. Hoàn thuế, miễn thuế cho các doanh nghiệp khó khăn cũng là yếu tố làm giảm thu.

3.2. Áp lực tăng chi ngân sách cho phòng chống dịch

Chi ngân sách Thanh Hoá phải tăng để chi y tế và phòng chống dịch bệnh. Quản lý chi ngân sách trở nên phức tạp hơn khi phải ưu tiên các khoản chi khẩn cấp. Các chương trình hỗ trợ người dân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng đòi hỏi tăng chi thường xuyên đáng kể, gây áp lực lên cân đối thu chi ngân sách.

IV. Giải pháp hoàn thiện công tác thu chi ngân sách Thanh Hoá

Để hoàn thiện công tác thu chi ngân sách tại tỉnh Thanh Hoá trong bối cảnh dịch bệnh, cần phải áp dụng những giải pháp toàn diện và bền vững. Trước tiên, đẩy mạnh phát triển kinh tế là giải pháp cơ bản để tăng nguồn thu ngân sách lâu dài. Thứ hai, tăng cường phân cấp quản lý ngân sách giúp nâng cao tính chủ động và hiệu quả của địa phương trong điều hành thu chi ngân sách. Thứ ba, áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý ngân sách giúp nâng cao minh bạch và hiệu quả. Cuối cùng, hoàn thiện đội ngũ cán bộ quản lý ngân sách thông qua đào tạo chuyên môn và nâng cao năng lực là yếu tố quan trọng. Những giải pháp này cần được triển khai đồng bộ để cải thiện hiệu quả quản lý ngân sách địa phương và tạo nền tảng phát triển kinh tế xã hội bền vững.

4.1. Tăng cường phát triển kinh tế và mở rộng nguồn thu ngân sách

Phát triển kinh tế bền vững là nền tảng để tăng thu ngân sách Thanh Hoá. Cần tập trung vào phát triển công nghiệp, khuyến khích đầu tư vào các khu công nghiệp và doanh nghiệp. Mở rộng nguồn thu ngân sách qua việc phát triển các ngành kinh tế mới, nâng cao chất lượng nông sản, thu hút đầu tư nước ngoài. Cơ cấu lại thu ngân sách cho phù hợp với nền kinh tế phát triển sẽ giúp cân bằng thu chi ngân sách bền vững hơn.

4.2. Ứng dụng công nghệ và nâng cao năng lực quản lý ngân sách

Áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý ngân sách giúp tăng hiệu quả thu và chi. Hệ thống quản lý ngân sách điện tử giúp giảm thiểu sai sót, tăng tính minh bạch. Đào tạo cán bộ quản lý ngân sách về các kỹ năng công nghệ, kế toán và quản lý tài chính là cần thiết. Hoàn thiện công tác tổ chức cán bộnâng cao năng lực quản lý ngân sách địa phương sẽ đảm bảo hiệu quả quản lý ngân sách lâu dài.

18/12/2025
Hoàn thiện công tác thu chi ngân sách nhà nước tại tỉnh thanh hoá trong thời điểm đại dịch covid 19

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Khái niệm tổng quan 1. Khái niệm về NSNN 1. Khái niệm Trên thực tế, ngân sách quốc gia có nhiều khái niệm.

Nghiên cứu kinh tế học cổ điển cho rằng: Ngân sách quốc gia được cho là một tài liệu tài chính mô tả các khoản thu và chi của chính phủ, được lập hàng năm. Đồng thời, các nhà nghiên cứu kinh tế hiện đại cho rằng ngân sách quốc gia là danh sách các khoản thu chi tiền mặt trong một khoảng thời gian nhất định. Theo Luật NSNN năm 2015 quy định: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước”. Trong tài chính quốc gia thì NSNN giữ vai trò chủ đạo.

Nhà nước rất quan tâm tới cơ chế quản lý ngân sách và từng bước đổi mới cơ chế trong giai đoạn hiện nay. Luật Ngân sách quốc gia năm 2015 và các luật, quy định có liên quan về quản lý thu, chi ngân sách được xây dựng theo các chuẩn mực sau: Thống nhất quản lý tài chính quốc gia, tăng tính chủ động và tinh thần trách nhiệm của các chủ thể, tổ chức. Các cơ sở, tổ chức, cá nhân sử dụng NSNN trong quản lý, tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, sử dụng hiệu quả và tiết kiệm ngân sách, tài sản nhà nước, tăng tích lũy hiệu quả công vụ. Sinh kế của nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh và ngoại giao.

Vai trò Thứ nhất, nhằm đáp ứng nhu cầu nhà nước thì NSNN là công cụ dùng để huy động các nguồn lực tài chính. Sự vận hành của đất nước luôn đòi hỏi phải có nguồn tài chính để đáp ứng nhu cầu chi tiêu kinh tế, chính trị và xã hội. Đây là vai trò lịch sử của NSNN do tính chất kinh tế của NSNN. Các khoản thu dưới dạng thuế, phí, lệ phí và các khoản thu phi thuế sẽ là cơ sở để chính phủ đáp ứng các nhu cầu chi tiêu này.

Để phát huy vai trò của ngân 8 sách nhà nước trong việc phân phối và huy động tài chính xã hội cho nhà nước, cần lưu ý những điểm sau: + Các thành viên trong xã hội được hỗ trợ từ ngân sách nhà nước thông qua thuế, phí và lệ phí phải đầy đủ (phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế để đảm bảo cho doanh nghiệp có điều kiện huy động vốn mở rộng sản xuất). + Được xem như là “công cụ kinh tế” sử dụng để thực hiện các khoản chi của Nhà nước và để tạo nguồn thu cho NSNN. + Tỷ lệ động viên của NSNN (tỷ suất thu) trên GDP. Thứ hai, kích thích sự tăng trưởng kinh tế (vai trò điều tiết trong lĩnh vực kinh tế) Trong thời gian những năm trước, khi Chính phủ áp dụng cơ chế kế hoạch hóa tập trung, NSNN đóng vai trò rất thụ động trong việc điều tiết các hoạt động.

Chính phủ can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất và thương mại, nhưng hầu như chỉ sử dụng vốn cố định khi cần thiết để bù đắp vốn lưu động, bù lỗ và bù giá. Vì vậy, hiệu quả thu, chi ngân sách chưa được đánh giá xác thực, dẫn đến NSNN bị tác động hạn chế. Sau này, Chính phủ đã đề ra chính sách chi ngân sách và chính sách tài khóa để kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và kích thích tăng trưởng kinh tế. Từ các khoản chi đầu tư cho cầu đường, điện, cấp thoát nước, bệnh viện, viễn thông trường học và những cơ sở hạ tầng khác đã thể hiện rõ vai trò giám sát kinh tế.

Đối với những lĩnh vực công nghiệp mới nổi và có tiềm năng phát triển mạnh, Chính phủ cũng đầu tư vào đó để góp phần làm chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng. Ngoài chính sách chi tiêu, chính sách tài khóa mà cụ thể là chính sách thuế quan cũng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình Chính phủ điều chỉnh cơ cấu kinh tế, định hướng và thúc đẩy mở cửa nền kinh tế, mở quan hệ ngoại giao, hợp tác cùng với các nước phát triển trên toàn cầu. Từ đó, tạo điều kiện khuyến khích thu hút vốn đầu tư và đầu tư trực tiếp từ khu vực doanh nghiệp. Thứ ba, giải quyết các vấn đề xã hội (vai trò điều tiết trong lĩnh vực xã hội) Ngân sách quốc gia có vai trò to lớn trong công tác thực hiện các chương trình, dự án về lĩnh vực xã hội như y tế, giáo dục, văn hoá, môi trường, người dân.

Điều đó 9 có ý nghĩa rất lớn cho việc đảm bảo quyền lợi của người dân, góp phần phát triển về còn người lẫn nền kinh tế. Để giải quyết tốt các vấn đề xã hội này thì bộ máy nhà nước, quân đội và cảnh sát phải hoạt động đạt hiệu quả cao, các hoạt động văn hoá, xã hội, y tế cũng phải phát triển Hạ viện, đây là những việc nhà Chính phủ phải giải quyết để thúc đẩy phát triển đất nước, vì mục tiêu chung mang lại lợi ích tốt nhất cho toàn xã hội. Nhà nước luôn quan tâm đặc biệt đến nhóm thu nhập thấp nhất, thông qua hỗ trợ gián tiếp dưới hình thức phúc lợi và nhu cầu xã hội (điện, nước, lương thực, thực phẩm .) để thực hiện các chính sách việc làm, chính sách dân số, chương trình xóa mù chữ, dịch bệnh,… Việt Nam mặc dù là một nước đang phát triển nhưng bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những khó khăn về nguồn vốn. Ở một số địa phương vẫn còn nhiều vấn đề xã hội cần được giải quyết cấp bách nhưng nguồn thu ngân sách lại hạn hẹp.

Vì vậy, việc sử dụng ngân sách quốc gia làm “công cụ” điều chỉnh là điều không dễ dàng, với sự chung sức của nhân dân, chúng ta phải quán triệt tinh thần của siêng năng và tiết kiệm. Thứ tư, góp phần chống lạm phát, ổn định thị trường giá cả (điều chỉnh trong lĩnh vực thị trường) Theo kinh tế vĩ mô ta có thể thấy “giá cả trên thị trường được quyết định bởi cung và cầu hàng hoá”. Dựa vào nguyên tắc đó, Chính phủ đã ban hành chính sách về tài khoá hoặc chi tiêu NSNN để tác động vào cung, cầu hàng hoá trên thị trường để tạo ra một mức giá phù hợp và bình ổn nhất. Khi giá cả ở mức thấp, quốc gia có thể bình ổn giá cả và dựa vào quỹ dự trữ tài chính hàng hóa quốc gia được hình thành từ quỹ do quốc gia cấp hàng năm để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và ổn định sản xuất trên thị trường.

Để đẩy lùi và kiểm soát lạm phát một cách hiệu quả, Chính phủ sử dụng các phương án như giảm chi ngân sách, hạn chế nhu cầu bằng cách tăng thuế tiêu dùng, bên cạnh đó đưa ra những chính sách làm giảm thuế đầu tư, kích thích hoạt động kinh doanh, sản xuất của các doanh nghiệp để tăng nguồn cung. Ngoài ra, Chính phủ có thể phát hành các công cụ nợ để vay trong dân nhằm giảm tỷ lệ lạm phát trong nền kinh tế, điều này cũng góp phần quan trọng trong việc bù đắp thâm hụt ngân sách quốc gia. Phân cấp quản lý NSNN Phân cấp quản lý ngân sách quốc gia được coi là một trong những biện pháp quản lý ngân sách quốc gia. Thực chất của phân cấp quản lý ngân sách quốc gia là sự phân công trách nhiệm, quyền hạn của chính quyền các cấp đối với hoạt động và quản lý NSNN nhằm làm cho hoạt động của ngân sách quốc gia lành mạnh và hiệu quả.

Thu, chi ngân sách nhà nước được quản lý theo phân cấp, thực hiện theo nguyên tắc thống nhất, tập trung, dân chủ. Theo Luật NSNN năm 2015: “Phân cấp quản lý ngân sách là việc xác định phạm vi, trách nhiệm và quyền hạn của chính quyền các cấp, các đơn vị dự toán ngân sách trong việc quản lý ngân sách nhà nước phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội.” Trong đó, nội dung chủ yếu của phân cấp quyền quản lý thu NSNN là tập trung hầu hết các nguồn thu lớn, ổn định vào ngân sách trung ương, đồng thời lập NSĐP cho các nguồn thu liên quan đến địa phương. Khái niệm về NSĐP 1. Khái niệm Theo Luật NSNN năm 2015 quy định: “Ngân sách địa phương là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho cấp địa phương hưởng, thu bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chi của cấp địa phương” Trong quá trình tạo lập, sử dụng và phân phối quỹ NSĐP thì bản chất của NSĐP chính là các mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa chính quyền trung ương và địa phương, giữa chính quyền địa phương với các chủ thể khác như doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân ngoài và trong nước, hộ gia đình và giữa các cấp chính quyền với các cấp chính quyền khác.

Vai trò Thứ nhất, duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương Để tồn tại và duy trì hoạt động của bộ máy chính quyền địa phương thì cần phải có một nguồn tài chính đảm bảo. Nguồn quỹ NSĐP được tạo lập thông qua việc thu 11 NSĐP qua đó nhằm mục đích đáp ứng kịp thời, đầy đủ các nhu cầu chi tiêu của chính quyền địa phương trong đó việc quan trọng vẫn là duy trì sự ổn định và liên tục cho bộ máy chính quyền. NSĐP nên được sử dụng đầu tiên để trang trải các chi phí hoạt động liên tục của chính quyền địa phương (ví dụ như tiền lương, hội nghị, phụ cấp, .) và sau đó là đầu tư phát triển. Thứ hai, chính quyền địa phương thực hiện các nhiệm vụ một cách đảm bảo Dựa trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở địa phương, trung ương và của mỗi cấp chính quyền địa phương mà thực hiện xác định quyền hạn và nhiệm vụ mà địa phương phải thực hiện và được quy định cụ thể trong từng thời kỳ.

Ngân sách trung ương tập trung vào thu nhập cao để đảm bảo các khoản chi quan trọng của đất nước, còn NSĐP được phân cấp nguồn thu nhằm đảm bảo cho việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, an ninh, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội trong khu vực mà địa phương quản lý. Ngân sách của cấp nào sẽ được sử dụng để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ