Khóa luận: Thông điệp về LGBT trên báo in và báo mạng - Vũ Thị Hoài

Nghiên cứu thông điệp về cộng đồng LGBT trên báo in và báo mạng điện tử hiện nay, phân tích xu hướng phản ánh, góc nhìn truyền thông và tác động xã hội.

Chuyên ngành

Báo chí

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2021

130
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan thông điệp về LGBT trên báo in và báo mạng hiện nay

Thông điệp truyền thông về cộng đồng LGBT phản ánh bức tranh đa chiều trong đời sống hiện đại. Báo in và báo mạng điện tử đóng vai trò then chốt trong việc định hướng dư luận xã hội. Các ấn phẩm báo chí truyền thống tập trung vào tính chuẩn mực, phân tích sâu và phản ánh chính sách pháp luật. Ngược lại, báo điện tử phát huy thế mạnh về tốc độ cập nhật, tính tương tác đa phương tiện và độ lan tỏa rộng rãi. Sự chuyển dịch từ truyền thông truyền thống sang báo chí kỹ thuật số mở rộng không gian thảo luận về quyền bình đẳng giới. Nhiều cơ quan báo chí uy tín đã tiếp cận đề tài này dưới lăng kính nhân văn và khoa học. Nội dung báo chí không chỉ giới thiệu khái niệm tính dục mà còn phản ánh các góc khuất tâm lý, đời sống gia đình và sự hòa nhập cộng đồng. Tuy nhiên, cách thức xây dựng thông điệp giữa hai loại hình báo chí vẫn tồn tại sự phân hóa rõ nét. Báo in duy trì tính chính thống và cẩn trọng trong cách dùng từ ngữ. Báo điện tử khai thác mạnh câu chuyện nhân vật nhằm thu hút lượt truy cập. Việc nhận diện đúng đặc trưng từng kênh truyền thông giúp nâng cao hiệu quả tuyên truyền xã hội.

1.1. Khái niệm và bối cảnh truyền thông về cộng đồng LGBT

Cộng đồng LGBT bao gồm người đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính và chuyển giới. Truyền thông về nhóm đối tượng này đòi hỏi sự hiểu biết thấu đáo về bản dạng giới và xu hướng tính dục. Tại Việt Nam, khung pháp lý và góc nhìn xã hội đã có nhiều chuyển biến tích cực trong thập kỷ qua. Luật Hôn nhân và Gia đình cùng các quy định y tế từng bước ghi nhận quyền con người của nhóm yếu thế. Báo chí là cầu nối trung gian đưa tiếng nói của cộng đồng LGBT đến với công chúng, phá bỏ định kiến lỗi thời và thúc đẩy tiến bộ xã hội.

1.2. Vai trò định hướng dư luận của báo in và báo điện tử

Báo in và báo điện tử giữ vị trí chủ lực trong việc thiết lập chương trình nghị sự xã hội. Thông qua việc lựa chọn góc nhìn, báo chí tác động trực tiếp đến thái độ của độc giả đối với người đồng tính và chuyển giới. Báo in tạo ra những bài viết chuyên luận có chiều sâu và độ tin cậy cao. Báo mạng điện tử cung cấp tin tức đa phương tiện, video phỏng vấn và diễn đàn thảo luận trực tuyến. Sự kết hợp giữa hai phương thức này định hình nhận thức cộng đồng một cách toàn diện và bền vững.

II. Thực trạng thông điệp về LGBT trên báo in và báo mạng hiện nay

Khảo sát thực tiễn giai đoạn 2018-2020 cho thấy diện mạo thông điệp về LGBT trên báo chí có nhiều chuyển biến phức tạp. Tỷ lệ bài viết mang góc nhìn khách quan và cảm thông ngày càng gia tăng trên các đầu báo lớn. Nhiều tác phẩm báo chí tôn vinh những tấm gương LGBT thành đạt, đóng góp tích cực cho kinh tế và nghệ thuật. Hình ảnh người đồng tính không còn bị gắn chặt với các yếu tố bệnh lý hay suy đồi đạo đức như giai đoạn trước. Dẫu vậy, báo chí hiện đại vẫn bộc lộ nhiều hạn chế đáng lo ngại. Một bộ phận trang tin điện tử sa đà vào xu hướng giật gân, câu khách. Các bài viết về tội phạm thường nhấn mạnh quá mức yếu tố giới tính của thủ phạm hoặc nạn nhân. Việc khai thác đời tư cá nhân thiếu chuẩn mực gây ra tâm lý tò mò độc hại trong dư luận. Bên cạnh đó, dung lượng bài viết giải thích khoa học về nguyên nhân và tâm lý giới còn rất hạn chế. Báo chí tập trung nhiều vào hiện tượng bề nổi nhưng thiếu vắng các bài chuyên sâu về chính sách pháp luật. Sự chênh lệch này dẫn đến nhận thức chưa trọn vẹn của xã hội.

2.1. Xu hướng tích cực trong việc phản ánh hình ảnh người LGBT

Số lượng bài viết mang thông điệp nhân văn về người LGBT tăng trưởng rõ rệt trên cả báo in lẫn báo mạng. Báo chí đã phản ánh trung thực nỗ lực khẳng định bản thân của các cá nhân tiêu biểu trong cộng đồng. Các chủ đề về tình yêu chân thành, hôn nhân đồng giới và khát vọng cống hiến được khai thác dưới góc nhìn tích cực. Báo chí hỗ trợ cộng đồng vượt qua rào cản mặc cảm, đồng thời khích lệ các gia đình chấp nhận con cái thuộc giới tính thứ ba. Đây là bước tiến quan trọng trong việc xây dựng xã hội bình đẳng và bao dung.

2.2. Tình trạng giật gân và định kiến giới còn tồn tại

Mặt trái của truyền thông trực tuyến thể hiện qua việc lạm dụng hình ảnh LGBT để tăng tương tác. Nhiều bài báo khai thác các vụ án hình sự liên quan đến người đồng tính với tiêu đề phản cảm. Cách đưa tin này vô tình củng cố định kiến xã hội rằng người LGBT gắn liền với tệ nạn và lối sống lệch chuẩn. Hơn nữa, việc sử dụng từ ngữ thiếu chuẩn xác hoặc miêu tả ngoại hình quá đà làm sai lệch hình ảnh cộng đồng. Những sai sót này làm suy giảm giá trị nhân văn của tác phẩm báo chí.

III. Giải pháp nâng cao thông điệp về LGBT trên báo in và báo mạng

Nâng cao chất lượng thông điệp truyền thông đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ từ cơ quan quản lý đến đội ngũ phóng viên. Trước hết, các tòa soạn cần thiết lập bộ quy chuẩn đạo đức và cẩm nang từ ngữ chuẩn xác khi viết về LGBT. Nhà báo phải tôn trọng quyền riêng tư và danh dự của nhân vật trong mọi hoàn cảnh tác nghiệp. Bên cạnh đó, việc đào tạo nâng cao kiến thức giới cho người làm báo là yêu cầu cấp thiết. Các khóa tập huấn chuyên môn giúp nhà báo nắm vững kiến thức y học, tâm lý và khung pháp lý quốc tế. Phóng viên cần chủ động tiếp cận nguồn tin khoa học để tránh rơi vào bẫy cảm tính hoặc định kiến cá nhân. Ngoài ra, cơ quan báo chí cần tăng cường phối hợp với các tổ chức xã hội dân sự bảo vệ quyền LGBT. Sự hợp tác này mang lại nguồn dữ liệu chân thực và những câu chuyện thực tế giàu cảm xúc. Việc kiểm duyệt nội dung trên báo điện tử cũng phải được siết chặt nhằm ngăn chặn các tiêu đề câu view giật gân, thiếu tôn trọng con người.

3.1. Xây dựng bộ nguyên tắc đạo đức và chuẩn mực ngôn từ báo chí

Bộ nguyên tắc ngôn từ giúp phóng viên sử dụng đúng thuật ngữ chuyên ngành khi phản ánh về người LGBT. Tránh dùng các từ ngữ mang tính xúc phạm, chế giễu hoặc miệt thị ngoại hình và lối sống. Khi đưa tin về các vụ việc tiêu cực, báo chí tuyệt đối không quy chụp hành vi cá nhân cho cả cộng đồng. Quy chuẩn đạo đức nghề nghiệp yêu cầu nhà báo phải bảo vệ danh tính nạn nhân và giữ thái độ khách quan. Việc kiểm soát chất lượng biên tập từ khâu duyệt bài giúp hạn chế tối đa thông tin sai lệch trên môi trường mạng.

3.2. Đào tạo chuyên môn và tăng cường hợp tác với tổ chức xã hội

Các cơ sở đào tạo báo chí và hội nhà báo cần đưa nội dung bình đẳng giới vào chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ. Phóng viên cần hiểu rõ sự khác biệt giữa xu hướng tính dục và bản dạng giới dưới góc độ khoa học. Hợp tác chặt chẽ với các tổ chức phi chính phủ và nhóm bảo vệ quyền giúp báo chí tiếp cận những câu chuyện người thật việc thật giàu tính nhân văn. Nguồn tư liệu chuẩn xác từ các chuyên gia tâm lý và pháp luật sẽ nâng cao tính thuyết phục cho từng bài viết truyền thông.

IV. Kết luận về thông điệp LGBT trên báo in và báo mạng điện tử

Báo chí giữ vai trò là tấm gương phản chiếu và định hình tiến trình văn minh của xã hội. Thông điệp truyền thông về cộng đồng LGBT trên báo in và báo mạng điện tử đang chuyển dịch theo chiều hướng tích cực và tiến bộ. Việc tôn trọng sự đa dạng giới tính không chỉ là vấn đề nhân quyền mà còn phản ánh mức độ hội nhập văn hóa của đất nước. Trong tương lai, công nghệ truyền thông số mở ra nhiều phương thức tiếp cận độc giả sáng tạo và hiệu quả hơn. Các hình thức báo chí dữ liệu, phóng sự ảnh đa phương tiện và podcast chuyên đề có thể lan tỏa thông điệp bình đẳng sâu rộng. Báo chí cần tiếp tục giữ vững tôn chỉ nhân văn, kiên quyết bài trừ xu hướng thương mại hóa rẻ tiền. Xây dựng một môi trường truyền thông lành mạnh đòi hỏi sự nỗ lực bền bỉ của cả hệ thống báo chí cách mạng. Từng bài báo chỉn chu, khách quan sẽ góp phần tháo gỡ từng lớp định kiến, mang lại sự công bằng và hạnh phúc cho mọi thành viên trong xã hội.

4.1. Ứng dụng công nghệ báo chí hiện đại trong truyền thông bình đẳng giới

Các tòa soạn cần tận dụng công nghệ kỹ thuật số để sản xuất nội dung chuyên sâu về cộng đồng LGBT. Báo chí dữ liệu kết hợp đồ họa tương tác giúp trực quan hóa các nghiên cứu xã hội học phức tạp. Định dạng podcast và video ngắn trên nền tảng số tạo cơ hội cho người LGBT tự kể câu chuyện cuộc đời mình một cách chân thực. Sự đổi mới công nghệ giúp thông điệp bình đẳng giới tiếp cận thế hệ độc giả trẻ tuổi nhanh chóng và tự nhiên hơn. Đây là hướng đi tất yếu để nâng cao sức ảnh hưởng của báo chí hiện đại.

4.2. Trách nhiệm xã hội của báo chí trong việc thúc đẩy bình đẳng giới

Trách nhiệm xã hội là giá trị cốt lõi của người làm báo khi đề cập đến các nhóm yếu thế trong xã hội. Báo chí không chỉ đưa tin đơn thuần mà phải hướng tới việc thúc đẩy thay đổi nhận thức và hành vi của công chúng. Tuyên truyền về quyền của người LGBT cần gắn liền với tinh thần thượng tôn pháp luật và lòng trắc ẩn. Mỗi tác phẩm báo chí chất lượng là một viên gạch xây dựng nền văn hóa bao dung, nơi mọi cá nhân đều được tôn trọng và phát triển trọn vẹn tiềm năng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Người đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính, chuyển giới (viết tắt là LGBT) cho đến bây giờ vẫn chưa được thừa nhận về mặt pháp lý cũng như xã hội. Xu hướng tình dục dị tính là phổ biến cho đến các giá trị chuẩn mực xã hội với nhóm dị tính cũng là phổ biến. Đi liền với nhóm đó thì xu hướng còn lại chỉ chiếm thiểu số.

Trong bối cảnh xã hội chưa thừa nhận sự đa dạng và khác biệt như một chuẩn mực thì nhóm người LGBT vẫn được coi là dễ bị kỳ thị, vô cùng kỳ lạ, thậm chí được xem như là một căn bệnh, dùng từ nặng hơn là “bệnh hoạn”. Mặc dù chủ đề về LGBT không còn mới mẻ, nóng hổi như trước đây nhưng cách nhìn nhận và thái độ của mọi người đối với những người đồng tính, song tính, chuyển giới về sự xa lánh, kì thị và những định kiến về họ vẫn đâu đó còn được nhắc lại, khắc họa rõ nét trong xã hội hiện nay. Điều này tạo nên sự áp lực để những người LGBT hòa nhập với xã hội. Nút thắt của vấn đề này là do ảnh hưởng của thông điệp truyền thông về LGBT trên các phương tiện báo chí truyền thông tới công chúng.

Mỗi cá nhân trong xã hội tiếp nhận thông tin qua các phương tiện truyền thông đại chúng và trực tiếp chịu ảnh hưởng từ những thông điệp truyền thông đó. Những thông điệp mang tính tiêu cực về những định kiến gây ra những hậu quả tiêu cực về sự kỳ thị trong xã hội. Bên cạnh đó, những thông điệp tích cực về cộng đồng LGBT sẽ giúp cộng đồng hòa nhập với tất cả mọi người, mang lại thái độ sống văn minh, thân thiện. Tại Việt Nam, vấn đề LGBT trong những năm gần đây nhận được sự quan tâm của cộng đồng xã hội và cơ quan hoạt động chính sách.

Tuy nhiên, nhận thức về cộng đồng LGBT của xã hội Việt Nam còn khá nhiều bất cập và đang tồn tại nhiều định kiến, kỳ thị rất rõ nét. Thực tế cho thấy, trong thời gian qua, Việt Nam vẫn còn chứa đựng những cách hiểu không đúng về bản chất của cộng đồng LGBT. Điều đó được thể hiện qua các nghiên cứu về xã hội học hay y học,… Chính vì vậy, cộng đồng LGBT thường xuyên được xuất hiện trong các bài báo trên các trang báo mạng và kể cả báo in với những suy nghĩ, cách gọi, từ 2 ngữ sử dụng không đúng, những hình ảnh không đẹp,… ảnh hưởng trực tiếp đến suy nghĩ, nhận thức của mọi người trong xã hội. Nghiên cứu thông điệp về LGBT trên báo in và báo mạng hiện nay nhằm tìm ra những khía cạnh trong việc truyền tải các thông điệp truyền thông về LGBT mà báo chí truyền thông đề cập tới xã hội.

Nghiên cứu để đánh giá cách thức đưa tin về LGBT trên báo in và báo mạng hiện nay. Bên cạnh đó, phân tích sự phát triển, sự thay đổi qua từng thời gian về cộng đồng LGBT và so sánh cách phân tích giữa hai hình thức đưa tin và truyền tải thông điệp. Ngoài ra, tóm tắt những thông điệp báo chí về sự kỳ thị và chống kỳ thị đối với cộng đồng LGBT. Với những lí do trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài về “Thông điệp về LGBT trên báo in và báo mạng hiện nay” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình.

Tổng quan tài liệu tình hình nghiên cứu Đề tài “Thông điệp về LGBT trên báo in và báo mạng điện tử hiện nay” (Khảo sát tại báo: Gia đình và xã hội; Công an nhân dân; Tiền phong; Tuổi trẻ; https://giadinh.vn;http://cand.vn;http://tuoitre.vn;https://vietnamnet.vn;htt ps://dantri.vn;https://ngoisao.net từ tháng 1/2018 đến tháng 12/2020) là một đề tài mới. Hiện tác giả có tìm thấy tài liệu về vấn đề thông điệp về đồng tính luyến ái trên báo in và báo mạng hiện nay (2008) nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu bao hàm hết về thông điệp về LGBT trên báo in và báo mạng điện tử. Có một số công trình nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến người đồng tính hay chuyển giới. Có thể kể đến công trình nghiên cứu về “Thông điệp về đồng tính luyến ái trên báo in và báo mạng điện tử” của nhóm tác giả Cộng tác nghiên cứu giữa Viện Nghiên cứu và Xã hội, Kinh tế và Môi trường (ISEE) và Khoa học xã hội, Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2008) hay “Người đồng tính trong xã hội Việt Nam đương đại: Từ ẩn ức đến tự sự” của tác giả Vũ Hoàng Hiếu; “Định kiến đối với người đồng tính” của tác giả Đồng Thị Yến;… Tác giả xin tổng quan một số tài liệu: 2.1 Những công trình nghiên cứu về thông điệp – truyền thông trên báo chí, báo in và báo mạng điện tử Sách “Truyền thông – Lý thuyết và kỹ năng cơ bản” của tác giả Nguyễn 3 Văn Dững (chủ biên) và Đỗ Thị Thu Hằng đề cập những kiến thức lý thuyết và kỹ năng truyền thông cơ bản, tạo lập kiến thức nền tảng và nâng cao kỹ năng giao tiếp – truyền thông – vận động xã hội trong hoạt động truyền thông và báo chí, các lý thuyết truyền thông, các mô hình truyền thông và các lý thuyết thông điệp truyền thông.

Tác giả đã kế thừa và tham khảo hệ thống các lý luận về các khái niệm truyền thông, khái niệm thông điệp và các lý thuyết phân tích thông điệp để áp dụng phân tích thông điệp về LGBT. Sách “Cơ sở lý luận báo chí” (2012) của tác giả Nguyễn Văn Dững cung cấp kiến thức về truyền thông, truyền thông đại chúng, các quan niệm về báo chí, tổng quan các loại hình báo chí, công chúng báo chí, các nguyên tắc cơ bản của hoạt động báo chí,…Tác giả đã tham khảo và kế thừa kiến thức công chúng và nguyên tắc hoạt động của báo chí và chức năng hoạt động để làm cơ sở cho lý thuyết đưa ra thông điệp truyền thông về LGBT trên báo in và báo mạng điện tử. Giáo trình “Tâm lý học báo chí” của tác giả Đỗ Thị Thu Hằng đề cập đến các tâm lý học ứng dụng trong nghề báo, tâm lý tiếp nhận sản phẩm báo chí của công chúng, tâm lý sáng tạo của nhà báo,… để tham khảo trong khóa luận đưa ra định hướng thông điệp về LGBT cho nhà báo sáng tạo. Sách “Báo mạng điện tử - Những vấn đề cơ bản” của TS.

Nguyễn Thị Trường Giang cung cấp cho tác giả những kiến thức cơ bản như khái niệm, các đặc trưng của báo mạng điện tử, cách viết và trình bày nội dung báo mạng điện tử. Tác giả đã tham khảo vào cuốn sách để tìm ra nội dung và cách thức truyền tải thông điệp truyền thông trên báo mạng điện tử. Nghiên cứu về thông điệp về LGBT trên báo in và báo mạng điện tử hiện nay là nghiên cứu về cộng đồng LGBT ở các khía cạnh: là đối tượng để báo chí phản ánh; là đối tượng tiếp nhận các sản phẩm báo chí và tham gia vào quá trình sản xuất ra sản phẩm báo chí để đưa ra những thông điệp chung cho xã hội. Thông điệp trong cuộc sống này thực sự không ít, nó đã trở thành phổ biến.

Đa số các các phẩm báo chí khi viết, bình luận, đánh giá và kết quả là đưa ra một thông điệp cuối cùng. Với những người LGBT, họ mang cho mình một giới tính đặc biệt, họ có khát vọng sống, khát vọng được hòa nhập với tất cả mọi 4 người. Tuy vậy, họ lại nhận nhiều sự chỉ trích, kỳ thị, chế giễu từ những người bình thường trong xã hội. Việc tham khảo, tiếp nhận các công trình đã nghiên cứu trước và tham khảo ở một số cuốn sách của các tác giả đi trước sẽ làm đa dạng đề tài khóa luận này.2 Những công trình nghiên cứu liên quan đến LGBT Trong cuốn “Định kiến với người đồng tính – Nghiên cứu khảo sát trên người đồng tính” đã chỉ ra những định kiến về người đồng tính ở cả Việt Nam và thế giới.

Nghiên cứu về định kiến đối với người đồng tính trên thế giới là vấn đề được nhiều nhà xã hội học cũng như tâm lý học trên thế giới nghiên cứu. Hầu hết những nghiên cứu về định kiến đối với người đồng tính được thực hiện nhằm mục đích tìm hiểu về sức khỏe cũng như các biểu hiện, mức độ và nguyên nhân của định kiến, kỳ thị để từ đó vận động, thúc đẩy quyền của người đồng tính nói riêng và cộng đồng người đồng tính, song tính và chuyển giới trên thế giới nói chung. Các hướng nghiên cứu như sau: Hướng nghiên cứu thứ nhất, nghiên cứu định kiến tập trung tìm hiểu các vấn đề về sức khỏe người đồng tính và cách ứng xử của các nhóm xã hội riêng biệt đối với người đồng tính. Nhiều nghiên cứu về sức khỏe của những người đồng tính chuyển giới cho thấy học có nguy cơ mắc các bệnh tật cao hơn những người dị tính (Berg, Mimiaga & Safren, 2008) và sử dụng các chất gây nghiện nhiều hơn (Hyde & cộng sự, 2009).

Năm 2008, King và các cộng sự của mình tiến hành nghiên cứu phân tích tổng hợp dựa trên các bài báo đã xuất ban trên toàn cầu về tình trạng loạn tâm thần, tự sát và tự hàm hại có chủ ý của người đồng tính nam, đồng tính nữ, song tính và chuyển giới (LGBT). Họ nhận thấy rằng, so với những người dị tính, nỗ lực tự tử của người LGBT cao hơn hẳn 2,47 lần, tỉ lệ mắc các chứng bệnh trầm cảm và sợ hãi kéo dài từ 1 năm trở lên cao hơn 1,5 lần, tỷ lệ người phụ thuộc vào rượu và các chất gây nghiện khác kéo dài từ 1 năm trở lên cao hơn 1,5 lần. Phụ nữ đồng tính và song tính đặc biệt có nguy cơ phụ thuộc vào rượu (nguy cơ cao hơn 4 lần so với nhóm dị tính), trong khi những người đồng tính nam và song tính đặc biệt có 5 nguy cơ thực hiện các nỗ lực tự sát (nguy cơ cao hơn 4.28 lần so với nhóm dị tính).32, 4] Nghiên cứu về sức khỏe của người đồng tính nữ được đề cập trong cuốn sách “Sức khỏe của đồng tính nữ” của tác giả Andrea L.Solarz thuộc Viện Y học (Mỹ) tiến hành do Viện Hàn lâm Truyền thông quốc gia xuất bản năm 1999, trong đó tác giả đã đưa ra những đánh giá tại thời điểm nghiên cứu và chỉ ra định hướng cho việc giải quyết vấn đề trong tương lai. Nghiên cứu này đưa ra một cái nhìn thẳng thắn vào những áp lực chính trị, thái độ của cộng đồng ảnh hưởng đến các nghiên cứu về vấn đề sức khỏe đối với người đồng tính nữ: Làm thế nào để xác định ra một người đồng tính nữ?

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ