chương 1 và chương 6 tác giả đã phân tích cụ thể khi thiết kế thông điệp nhằm vào nhận thức lý trí; thiết kế thông điệp nhằm vào tình cảm cần chú ý những gì. Trong đó, thông điệp được phân thành 4 dạng: thông điệp dich, thông điệp cụ thé, thông điệp tài liệu, thông điệp an. Day là nguồn tài liệu tham khảo quý giá đối với người viết về khái niệm thông điệp và các vẫn đề liên quan đến phân tích thông điệp. Tác giả Đinh Thị Thúy Hăng đã phân tích xu hướng hội tụ truyền thông trên thé giới trong cuén “Báo chi thé giới — xu hướng phát triển ” năm 2008.
Tác giả chỉ ra rằng, “Thách thức lớn nhất đối với các phương tiện, báo chí thế giới trong xu thể hoi tụ là làm thé nào dé thu hút cong chúng với những cách lam mới, da dạng và phong phú với sự tham gia cua chính những khan giả, bạn đọc cua mình ” [20, tr. Quan điểm này liên quan đến một trong những lý thuyết truyền thong mới — đó là vai trò “đồng tác giả” giữa công chúng và các đơn vị báo chí truyền thông. Cổng trình “Những kỹ nang về sử dụng ngon ngữ trong truyén thong đại chung” của tác giả Hoang Anh, đã dé cập đến các van đề khổng chỉ về ngồn ngữ báo chí mà còn liên quan tới nhiều phạm vi khác của hoạt động truyền thong. Nhiều van đề như đặc điểm sapo trên báo chí, đặc điểm ngồn ngữ BĐT và giải pháp nhằm góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trên báo chí đã được tác giả làm sáng tỏ trên bề dày nhiều năm khảo sát và nghiên cứu théng qua các ví dụ phong phú trên thực tế.
Cũng có thé kế đến cổng trình “Truyền thong Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa” của tác giả Lưu Hồng Minh, tuyên tập những bài viết nghiên cứu truyền thống của khoa Xã hội học, Học viện Báo chí và Tuyền truyền (HVBC&TT). Cong trình chia thành 3 chương theo các hướng nghiên cứu chính: những van dé chung, tiếp cận truyền thông đại chúng, công chúng, nhu cầu tiếp cận và hiệu quả truyền thồóng dai chúng. Các tac giả đã giúp độc giả nhận diện các nhần tố làm nền sự thay đổi của truyền thông đại chúng hiện nay trong quá trình toàn cầu hóa, đến năng lực tiếp cận truyền théng của người dân Việt Nam ở một số khu vực trong nước, va tac động của các chương trình cụ thé riêng biệt đến nhận thức của người dân về các van đề nghiên cứu. Tác giả Duong Xuân Son trong cổng trình nghiền cứu “Báo chí Viet Nam thời kỳ đổi mới (từ ndm 1986 đến nay)” đã khang định những đóng góp của báo chí Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, đồng thời tập trung nghiền cứu về vai trò của báo chí được thê hiện trên các vấn đề: Vai trò của đội ngũ nhà báo; Báo chí với lĩnh vực đôi mới kinh tế; Báo chí với công cuộc phòng, chống tham nhũng; Báo chí với van dé Nong nghiệp nồng thôn; Kinh tế báo chí; Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình; Tìm ra những hạn chế, khiếm khuyết dé báo chí phát triển hơn nữa trong những năm tiếp theo.
Các công trình nghiên cứu trên phần nào đã cho thấy những vấn đề cơ bản về lý luận báo chí truyền thông, kiến thức nghiệp vụ của hoạt động báo chí, vai trò của báo chí trong đời sống xã hội và báo chí trong đời sống quốc tế, khu vực. Các công trình nghiên cứu về văn hóa Việt Nam và văn hóa nhà ở của người Việt 2. Nghiên cứu về văn hóa Việt Nam Văn hóa Việt Nam lâu nay được các học giả phân tích và nghiên cứu trên nhiều chiều kích dé từ đó vừa bảo tồn vốn văn hóa dân tộc, vừa phát triển nền văn hóa đó trên con đường hội nhập toàn cầu. Học giả Dao Duy Anh với tác phẩm “Việt nam văn hóa sử cương” được xem là người khởi dựng hướng nghiên cứu văn hóa Việt Nam với tư cách một cộng đồng văn hóa dân tộc — quốc gia.
Trong công trình nghiên cứu, ông không chỉ hướng đến miêu tả diện mạo văn hóa tộc người mà đặt van đề suy nghĩ về vận mệnh của nền văn hóa dân tộc, suy nghĩ về nội lực và sứ mệnh của nó trong công cuộc giải phóng đất nước, tự cường dân tộc. Sử dụng tư liệu dân tộc học kêt hợp với việc vận dụng các khái niệm xã hội học, đặc biệt là lý thuyết văn hóa của Félix Sartiaux, học giả Đào Duy Anh đã bước đầu phác thảo mô hình cấu trúc nền văn hóa xã hội Việt nam, đề cập đến nhiều nội dung nghiên cứu từ chủ thé văn hóa, không gian văn hóa, hệ tu tưởng và diện mạo các giai đoạn lịch sử của văn hóa dân tộc, quá trình lịch sử hình thành cộng đồng văn hóa dân tộc — quốc gia, đến những cộng đồng văn hóa cơ bản (văn hóa gia đình, văn hóa làng, văn hóa đô thị). Cũng trong dòng các tác giả tân học nghiên cứu về văn hóa Việt Nam, GS. Nguyễn Văn Huyén với công trình “Văn minh Việt Nam” (La civilation Annamite) được hoàn thành vào năm 1939 và được công bồ bằng tiếng Pháp năm 1944.
Từ góc nhìn văn hóa tộc người (chủ yếu là về văn hóa Việt ở châu thé Bắc Bộ), công trình nghiên cứu này đã phác thảo nên một bức tranh xã hội học về văn hóa Việt Nam trong mối quan hệ Nhà — Lang — Nước, bước đầu khắc họa được cái cốt lõi của văn hóa dân tộc Việt. Những đóng góp quan trọng của PGS. Phan Ngọc được thể hiện trong một loạt các công trình nghiên cứu của ông, tiêu biéu là công trình “Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới ” thuộc Chương trình KX.06 do Viện Nghiên cứu Đông Nam Á thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia công bố. Phan Ngọc đã đưa ra những định nghĩa, khái niệm mang tính “tinh thần luận”, song mong muốn đổi mới văn hóa, đối mới đất nước, đôi mới thân phận người lao động, ông nhắn mạnh cách nhìn văn hóa ở khía cạnh phát triển kinh tế.
Theo ông, thao tác luận chính là sự đóng góp trực tiếp hơn, thiết thực hơn cho việc giải quyết những van dé thực tiễn đang đặt ra. Mặt khác, trong công trình nghiên cứu trên PGS. Phan Ngọc cũng đã khai mở các khái niệm: (kiéu) lựa chọn, độ khúc xa (refraction), nghệ thuật bricolage (lắp ghép, dung hóa), vượt gộp. Theo ông, (kiêu) lựa chọn mang tính cá biệt.
Mỗi thé cộng đồng có một (kiểu) lựa chọn riêng biểu hiện thành một lối sống riêng không giống các thé cộng đồng khác mà nguồn gốc sâu xa chính là sự khác nhau kéo dai hàng ngàn năm trong chính đời sống vật chất, tinh thần và xã hội của các cộng đồng. Ông cũng chỉ ra tằng: “Van hóa Việt Nam là bricolage, sáng tạo chủ yếu của người Việt Nam là 10 lắp ghép, dung hòa từ nhiều gốc rất khác nhau tạo nên một thể thống nhất hữu cơ kỳ điệu ” [28, tr. Khi nghiên cứu về văn hóa Việt Nam, trong cuốn “Việt Nam cái nhìn địa — văn hóa” GS. Trần Quốc Vượng đã chỉ ra văn hóa là một thực thể có sự vận động trong không gian và thời gian.
Nhìn theo chiều thời gian, văn hóa Việt Nam là một diễn trình lịch sử có những quy luật phát triển của nó. Nhìn trong không gian, văn hóa Việt Nam có sự vận động qua các vùng/ xứ/ miền khác nhau. Cụ thể, GS. Trần Quốc Vượng cho rằng: “Việt Nam là một quốc gia trải dài từ Bắc vào Nam với các vùng sinh thái khác nhau.
Mặt khác, Việt Nam lại là một quốc gia da tộc người, với 54 tộc người cùng chung song hòa hợp, đoàn kết và thân ái. Điều kiện tự nhiên, xã hội, lịch sử của các vùng không hoàn toàn như nhau. Do vậy, sự vận động của văn hóa trong không gian và thời gian luôn chịu sự tác động của những diéu kiện này” [48, tr. Cũng nghiên cứu văn hóa Việt Nam theo chiều kích không gian, trong cuốn “Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa Việt Nam”, GS.
Ngô Đức Thịnh đã chỉ ra: “Thông qua nghiên cứu văn hóa vùng và phân vùng văn hóa, để ta thấy được các sắc thái văn hóa đa dạng của các vùng, của các tộc người; thấy được quy luật hình thành và biến đổi của văn hóa trong các môi trường không gian dia lý nhất định, thay được con đường và các phương thức giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại giữa các vùng trong nước, giữa nước ta với văn hóa khu vực Đông Nam Á và thế giới, đặc biệt là với Trung Quốc và An Độ” [41, tr. Nội dung cuốn sách gồm bốn phần chính, phần thứ nhất, tác giả nếu lên những nét lớn của lịch sử nghiên cứu vấn đề không gian văn hóa, trong đó vấn đề vùng văn hóa là trung tâm; phần thứ hai, tác giả đã phác thảo về phân vùng văn hóa ở Việt Nam với 7 vùng lớn và 26 tiểu vùng, song song với đó, tác giả cũng đi sâu phân tích một số vùng văn hóa cụ thé như: vùng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ, vùng văn hóa xứ Huế, vùng văn hóa Trường Sơn — Tây Nguyên, vùng văn hóa Nam Bộ.; phần thứ ba GS. Ngô Đức Thịnh đã chỉ ra những quan niệm sơ bộ về vùng thê loại văn hóa dân gian, mối quan hệ giữa vùng thê loại và vùng văn hóa tông thê. Dé làm rõ về đặc trưng của vùng văn hóa, GS.
Ngô Đức 11 Thịnh đã nghiên cứu đặc trưng văn hóa vùng, qua nghiên cứu kiến trúc dân gian, truyền thống ăn uống và lễ hội trong phan thứ tư. Cũng có thể kế đến công trình nghiên cứu “Tim về bản sắc văn hóa Việt Nam” của GS. Trần Ngọc Thêm, công trình nghiên cứu này đã ứng dụng triệt đề và nhất quán cách tiếp cận hệ thống. Cụ thể, văn hóa Việt Nam được xem xét trong hệ thong văn hóa thế giới, văn hóa nông nghiệp, văn hóa phương Đông, trong sự đối sánh giữa văn hóa gốc nông nghiệp với văn hóa gốc du mục, qua đó đưa ra những nét đặc thù của văn hóa Việt Nam.
Dé từ đó, trở về vội nguồn có thê xác định diện mạo văn hóa Việt Nam, xác định các thành tố cơ bản và mối liên hệ hữu cơ giữa các thành tố đó trong cấu trúc hệ thống văn hóa Việt Nam toàn vẹn. Nghiên cứu về văn hóa nhà ở của người Việt PGS. TS Trần Lâm Bién trong cuốn “Diễn biến kiến trúc truyền thống Việt vùng châu thé sông Hong” đã chỉ ra những quan điểm của người Việt về nhà ở trong mỗi tương tác với thiên nhiên, với môi trường xã hội.