CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẶT CỌC 1. Khái quát về thời hiệu khởi kiện trong giải quyết tranh chấp đặt cọc 1. Khái niệm thời hiệu khởi kiện trong giải quyết tranh chấp đặt cọc Theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 thì: “Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng”.
Để phát sinh quan hệ đặt cọc, thì phải có việc giao tài sản giữa các bên và 1 việc giao tài sản này là nhằm bảo đảm việc giao kết hay thực hiện hợp đồng (sau 2 đây thống nhất gọi là hợp đồng chính). Về hiệu lực, đặt cọc có hiệu lực kể từ khi hai bên đã chuyển giao thực tế một 3 khoản tiền hoặc vật dụng là tài sản đặt cọc. Kể từ thời điểm này, đặt cọc mới thực sự ràng buộc các bên về mặt pháp lý trong việc thực hiện nghĩa vụ cam kết, quản lý tài 4 sản… Về mục đích, đặt cọc tồn tại có sứ mệnh bảo đảm cho việc giao kết, thực hiện 5 một hợp đồng khác. Đặt cọc nhằm ổn định các quan hệ dân sự, chống lại việc lừa dối, 6 bội tín, đề cao trách nhiệm của các bên tham gia giao dịch dân sự.
Về tính chất, đặt cọc vừa có tính chất của một loại giao dịch dân sự, thường thể hiện dưới dạng hợp đồng, vừa có tính chất là một biện pháp bảo đảm, thể hiện chế tài do các bên thỏa thuận trước 7 khi vi phạm. Đặt cọc thực chất là “sự thỏa thuận giữa các bên”, là một loại giao dịch 8 đặc biệt, một dạng của hợp đồng dân sự. Do đó, đặt cọc sẽ chịu sự 1Đỗ Văn Đại (chủ biên) (2019), Giải quyết tranh chấp Hợp đồng - Những điều doanh nhân cần biết, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, tr.
2 Trong khoa học pháp lý, hợp đồng được đặt cọc bảo đảm giao kết, thực hiện được gọi dưới nhiều tên khác nhau như: Hợp đồng có đặt cọc; hợp đồng có đặt cọc bảo đảm; hợp đồng được đặt cọc; hợp đồng được đặt cọc bảo đảm; hợp đồng được bảo đảm; hợp đồng được bảo đảm bởi đặt cọc; hợp đồng chính… Tuy nhiên, để thống nhất cách sử dụng thuật ngữ xuyên suốt nội dung nghiên cứu của đề tài, phân biệt với hợp đồng đặt cọc và nhằm liền mạch tư duy cho người đọc, tác giả thống nhất sử dụng thuật ngữ “hợp đồng chính”. 3 Hoàng Thế Liên (chủ biên) (2009), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2005 – Tập 2, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 4 Nguyễn Xuân Quang và Nguyễn Phước Quí Quang (2015), “Một số vấn đề pháp lý về đặt cọc”, Tạp chí Phát triển và hội nhập, số 20 (30), tr.
Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr. 6 Tưởng Duy Lượng (2008), Xử lý các tranh chấp trong một số án dân sự, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 7 Trường Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam – Tập 2, Nxb.
Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 8 Tưởng Duy Lượng, tlđd (6), tr. 10 điều chỉnh của các quy định về giao dịch dân sự nói chung, quy định về hợp đồng 9 nói riêng. Về tranh chấp đặt cọc, tranh chấp được giải thích theo từ điển tiếng Việt là “giành nhau một cách giằng co cái không rõ thuộc về bên nào, là sự đấu tranh giằng 10 co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa các bên”.
Tranh chấp dân sự là những tranh chấp phát sinh từ quan hệ dân sự, dựa trên phạm vi điều chỉnh của BLDS năm 2015 thì đó là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ về nhân thân, tài 11 sản của cá nhân, pháp nhân. Trong Từ điển Luật học, tranh chấp hợp đồng là những bất đồng phát sinh giữa các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng, do việc không thực 12 hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng. Từ những khái niệm trên, dưới góc độ khoa học pháp lý, tranh chấp đặt cọc có thể hiểu là những bất đồng phát sinh khi mục đích đặt cọc không đạt được, các cam kết trong đặt cọc không được thực hiện dẫn đến những xung đột về quyền và lợi ích giữa các bên. Cụ thể là hợp đồng được bảo đảm không được giao kết, thực hiện hoặc thực hiện không đúng gây thiệt hại tới lợi ích chính đáng của một hoặc một số bên chủ thể.
Về thời hiệu khởi kiện, theo khoản 3 Điều 150 BLDS năm 2015 thì: “Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện”. Theo giải thích của Từ điển Luật học thì: “Thời hiệu khởi kiện vụ án là thời hạn do pháp luật quy định mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. 13 Khi thời hạn đó kết thúc, đương sự sẽ mất quyền khởi kiện…”. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là một chế định do pháp luật thiết lập nhằm giúp cho cá nhân, tổ chức thực thi hoặc lựa chọn cách xử sự phù hợp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ thông qua cơ chế Tòa án.
Thời hiệu khởi kiện không được Tòa án chủ động viện dẫn mà Tòa án chỉ áp dụng thời hiệu theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định. Điều này được lý giải dựa trên nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự là tự do, 9 Đỗ Văn Đại (2017), Luật nghĩa vụ và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Việt Nam - Bản án và bình luận bản án - Tập 2 (xuất bản lần thứ ba), Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr. 10 Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb.
Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học, tr. 11 Thái Văn Mừng (2019), “Phân biệt tranh chấp kinh doanh, thương mại với tranh chấp dân sự”, Tạp chí Kiểm sát, số 24, tr. 12 Bộ Tư pháp - Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển bách khoa - Nxb.
Tư pháp, Hà Nội, tr. 13 Bộ Tư pháp - Viện Khoa học pháp lý, tlđd (12), tr. 11 tự nguyện của cá nhân và nguyên tắc tự do quyết định, tự định đoạt của đương sự được ghi nhận tại khoản 2 Điều 3 BLDS năm 2015 và Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015. So sánh khái niệm thời hiệu khởi kiện theo quy định của một số quốc gia trên thế giới, chẳng hạn như theo quy chế giới hạn của BLTTDS California thì thời hiệu khởi kiện được hiểu là thời hạn nộp đơn khởi kiện mà hầu hết các vụ kiện phải được nộp trong khoảng thời gian đó.
Nếu thời hiệu khởi kiện hết, thì yêu cầu pháp lý của vụ án đó không còn hiệu lực nữa. Khoảng thời gian có thể nộp đơn kiện khác nhau 14 tùy thuộc vào từng loại yêu cầu pháp lý. Theo quy định của Luật Tòa án và Tố tụng Tư pháp Maryland thì thời hiệu đề cập đến khoảng thời gian giới hạn mà một 15 chủ thể có thể nộp đơn khởi kiện người đã có hành vi vi phạm với mình. Theo BLDS Cộng hòa liên bang Đức (BLDS Đức) thì thời hiệu khởi kiện là thời gian áp đặt giới hạn mà một bên phải đưa ra yêu cầu khởi kiện hoặc thông báo về yêu cầu đó cho bên kia.
Nếu thời hiệu khởi kiện theo quy định đã hết, yêu cầu khởi kiện của một bên sẽ bị “cấm”, bị đơn có thể viện dẫn quy định này để yêu cầu Tòa án giải 16 phóng mình khỏi việc phải thực hiện nghĩa vụ với bên yêu cầu. Như vậy, thời hiệu khởi kiện theo quy định của một số quốc gia trên thế giới cũng được hiểu là thời hạn do pháp luật quy định mà chủ thể được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết 17 yêu cầu, nếu thời hạn đó kết thúc thì sẽ mất quyền khởi kiện. Từ những phân tích trên, thời hiệu khởi kiện tranh chấp đặt cọc được hiểu là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những tranh chấp phát sinh từ đặt cọc, khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện. Tùy theo từng loại tranh chấp mà thời hiệu khởi kiện được xác định khác nhau.
Quy định về thời hiệu khởi kiện trong giải quyết tranh chấp đặt cọc không được minh thị thành một điều luật riêng biệt mà được áp dụng thông qua những quy định tản mạn về thời hiệu được quy định trong BLDS năm 2015. Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương 14 Judicial Council of California, “Statute of Limitations”, https://www.htm, accessed on 30/10/2020. 15 The People’s Law Library of Maryland (2021), “Statute of Limitations”, https://www.org/statute-limitations, accessed on 30/10/2020. 16 Cross Channel Lawyers (2013), “Limitation under German Law”, https://www.uk/limitation-under-german-law/, accessed on 30/10/2020.
17 Đoàn Đức Lương và Trần Ngọc Sơn (2017), “Thời hiệu khởi kiện các vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Pháp luật và thực tiễn, số 1, tr. 12 sự thì chúng ta cần có những quy định cụ thể và xác định đúng bản chất của từng loại tranh chấp để lựa chọn loại thời hiệu khởi kiện áp dụng tương ứng. Các loại thời hiệu khởi kiện được áp dụng cho các tranh chấp đặt cọc Việc xác định loại thời hiệu khởi kiện nào được áp dụng cho các tranh chấp đặt cọc sẽ tùy thuộc vào từng loại tranh chấp. Trong thực tiễn, tranh chấp về đặt cọc rất đa dạng, xuất phát từ tính chất đặc thù “song trùng” về mục đích đặt cọc, chức năng tiền 18 cọc, hậu quả xử lý tài sản đặt cọc và cả pháp luật điều chỉnh đối với hợp đồng đặt cọc.