Chương 1 : Con người và sự nghiệp Chương 2 : Văn nghiệp Huỳnh Thúc Kháng Chương 3 : Huỳnh Thúc Kháng và tiến trình hiện đại hoá văn học Việt Nam - Phần III : + Phần kết luận + Danh mục Sách tham khảo + Phụ lục PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 CON NGƢỜI VÀ SỰ NGHIỆP 1. Cốt cách xứ Quảng trong con người Huỳnh Thúc Kháng Trong phần này của luận văn, chúng tôi mong muốn đi tìm và lí giải nguyên nhân sâu xa ảnh hưởng đến tính cách nhà cách mạng. Qua một vài nét phác thảo, chúng tôi cho rằng cốt tinh xứ Quảng – quê hương nhà chí sĩ – đã nhiễm rất sâu vào Huỳnh Thúc Kháng, đến mức mà khi đi tìm lời giải đáp cho cá tính và cốt cách của nhà chí sĩ, người ta thường tìm về cội nguồn quê hương, mảnh đất Quảng Nam “Lam sơn chướng khí” nhưng cũng là nơi sản sinh ra những nhân vật kiệt hiệt nhất trong thời đại “mưa Âu gió Á” nhiều biến động. Không chỉ dừng lại ở dó, chúng tôi còn nhận thấy, chính những biến loạn của đất nước, cùng sự thất bại “đầu rơi, máu chảy” của Nghĩa hội Quảng Nam hoạt động trong phong trào Cần vương mà ông tận mắt được chứng kiến từ thuở thiếu niên cùng với quá trình theo đòi “cửa Khổng sân Trình” với tinh thần “khắc kỉ phục lễ” được ông tiếp thu và thực hành đến mức sâu đậm.
Tất cả những yếu tố này đã tạo nên một Huỳnh Thúc Kháng vừa hết sức trang nghiêm, cẩn trọng, cương quyết, chân thành nhưng cũng lại tới tận mức bảo thủ, ương ngạnh,. Đó chính là những nét tiêu biểu nhưng cũng là những điểm hạn chế trong tính cách con người Huỳnh Thúc Kháng. Những nét tính cách này in đậm trong con người thường nhật của ông và cũng là cơ sở để ta nói rằng nó in đậm trong dấu ấn sáng tạo văn chương của Huỳnh Thúc Kháng. Con người và sự nghiệp Huỳnh Thúc Kháng (1876 – 1947) còn có tên là Huỳnh Hanh, tự là Giới Sanh, hiệu Minh Viên, quê làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang thượng, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kì (nay thuộc thôn I, xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước), tỉnh Quảng Nam.
Tổ tiên ông vốn là người Bắc vào xứ Quảng lập nghiệp từ thế kỉ XIV, XV và chỉ đơn thuần làm nghê nông. Tuy xuất thân từ gia đình nhiều đời làm nông, nhưng thân sinh Huỳnh Thúc Kháng lại mang giấc mộng khoa cử, đi thi vài lần nhưng không đỗ đạt gì, thêm vào đó những biến cố đau lòng của gia đình sau sự ra đi của hai người anh trai vốn nổi tiếng thông minh, ham học hỏi là những nguyên nhân thúc giục Huỳnh Thúc Kháng khắc kỉ đến cùng để theo đuổi nghiệp khoa cử, “trải trên 20 năm như một ngày theo khuôn khổ nghiêm huấn không lúc nào sai”. Chính nỗ lực không ngừng nghỉ ấy mà ngay từ nhỏ, Huỳnh Thúc Kháng đã nổi danh là một trong tam hùng xứ Quảng (Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Phạm Liệu). Tuy vậy, mãi đến năm 29 tuổi (1904) ông mới đỗ tiến sĩ nhưng lại không lựa chọn con đường hoạn lộ mà cùng với các bạn đồng chí hướng như Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp,.
rẽ sang một hướng khác nhiều gian nan, cực nhọc hơn nhưng tiếng thơm lưu lại đến muôn đời : con đường hoạt động cách mạng. Những năm cuối thế kỉ XIX, đất nước ta gần như chìm đắm trong vòng nô dịch cuả thực dân Pháp. Những biến động lớn lao trong đời sống xã hội cùng những biến cố từ bên ngoài bằng nhiều con đường được đưa vào Việt Nam đã thúc giục những nhân sĩ tâm huyết với dân tộc không thể mãi khoanh tay nhìn đất nước trong cảnh lầm than, cơ cực. Để cứu đất nước ra khỏi thực trạng bi thảm ấy, họ phải nhập cuộc với tất cả sự tự giác và nghị lực phi thường.
Trong số không ít những khả năng hành chỉ đương thời, duy tân, tự cường là con đường được những chí sĩ như Huỳnh Thúc Kháng, Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp lựa chọn và theo đuổi. Đỗ đạt theo đúng ước nguyện thân phụ hằng gửi gắm nhưng khá đột ngột khi Huỳnh Thúc Kháng rẽ sang một bước ngoặt khác mà không vì bất kì một biến cố hay áp lực bên ngoài nào tác động vào. Đây là một sự lựa chọn dũng cảm, hoàn toàn chủ động có ý thức và có ý nghĩa bước ngoặt không chỉ đối với sự nghiệp Huỳnh Thúc Kháng mà còn đối với lịch sử dân tộc trong một giai đoạn có nhiều biến động lớn lao đầu thế kỉ XX. Sự kiện quan trọng này đã được lịch sử ghi nhận : “Người đỗ đạt mà không ra làm quan thì không phải đến thời điểm này mới có, nhưng đỗ chính thức đại khoa mà không ra làm quan thì những người như vậy trong lịch sử khoa cử Việt Nam không nhiều.
Trước Nguyễn Thượng Hiền, tôi không nhớ được có yếu nhân nào đã từng làm như thế. Sau Nguyễn Thượng Hiền, giờ tới lượt hai ông, nghè Ngô và nghè Huỳnh – những người cùng trang lứa (Huỳnh Thúc Kháng sinh năm 1876, Ngô Đức Kế sinh năm 1878), cùng tâm trạng và rồi, sẽ cùng chung nhiều chặng của số phận” [39]. Cuộc tiếp xúc với các sách báo Tân thư, Tân văn từ phương Tây đưa vào, từ Trung Quốc đưa sang dường như ngay lập tức có tác động mạnh mẽ khiến nhà chí sĩ đi đến một quyết định dứt khoát, cùng các đồng chí thực hiện nam du kêu gọi bài xích lối học khoa cử cũ, đả kích chế độ quân chủ, đề xướng tân học, … Phong trào Duy tân mà Huỳnh Thúc Kháng là một trong ba lãnh tụ đã nhanh chóng lan rộng khắp Trung Kì, nó cho thấy những lời kêu gọi có tính chất hoà bình của một cuộc vận động xã hội để thức tỉnh, giục giã nhân dân tham gia vào công cuộc xây dựng lối sống mới của các ông một khi đã đi vào lòng quần chúng, tới tận từng thôn xóm sẽ làm bùng phát các làn sóng đấu tranh xã hội, kích thích họ nổi dậy thành những phong trào có tính chất bạo lực cách mạng, dù chỉ là đấu tranh tự phát nhưng những phong trào ấy đã góp phần không nhỏ làm thay đổi tính chất và mục tiêu các phong trào đấu tranh đang có phần im ắng lúc bấy giờ. Trong số các phong trào cách mạng diễn ra dưới ảnh hưởng của phong trào Duy Tân, phong trào chống sưu bùng nổ ở Quảng Nam và sau đó lan rộng ra khắp dải đất từ Hà Tĩnh vào Bình Định, lan sâu vào cả những thôn làng miền ngược hẻo lánh (năm 1908) là tiêu biểu hơn cả.
Chính sự bùng nổ của phong trào cách mạng này đã khiến hàng loạt sĩ phu yêu nước mà đứng đầu là những lãnh tụ của phong trào Duy Tân phải nhận án lưu đày Côn Đảo. Trần Quý Cáp đang làm giáo thụ ở Khánh Hòa phải lên đoạn đầu đài, Huỳnh Thúc Kháng và cả Phan Châu Trinh (khi đó đang ở Hà Nội) phải chịu án lưu đày, “ngộ xá bất nguyên” trở thành một trong những “đệ nhất tù nhân” của “địa ngục trần gian” Côn Đảo. Năm 1921, sau 13 năm bị lưu đày Huỳnh Thúc Kháng và một số bạn tù được mãn hạn. Trở về từ “trường học thiên nhiên” Côn Đảo, Huỳnh Thúc Kháng càng trở nên già dặn, kiên trung, đến mức dù sống trong lòng nghi kị của một số bạn hữu cũ, dù trong hoàn cảnh nghèo khó, nhưng khi thực dân Pháp đưa quan chức, bổng lộc ra làm mồi nhử thì ông vẫn rất mực tỏ thái độ bất hợp tác.
Vào năm 1926, thực hiện “chính sách ve vãn thuộc địa”, thực dân Pháp chủ trương cải tổ Hội đồng Tư phỏng thành Viện Nhân dân đại biểu (gọi tắt là Viện dân biểu), Huỳnh Thúc Kháng ra ứng cử và trúng cử, rồi được bầu làm Viện trưởng Viện dân biểu. Ngay từ khi mới được bầu làm Viện trưởng, Huỳnh Thúc Kháng đã tranh thủ sự hợp pháp này để đấu tranh công khai đưa ra một số yêu sách đòi mở rộng dân chủ, thực hiện những chính sách mà chính quyền thuộc địa đã hứa hẹn. Những hoạt động mà Huỳnh Thúc Kháng thực hiện trong thời gian này đã một lần nữa cho thấy nhiệt huyết cách mạng, lòng yêu nước mãnh liệt của một trong những lãnh tụ cách mạng kiệt hiệt đầu thế kỉ XX. Với nhãn giới chính trị sắc bén của mình, Huỳnh Thúc Kháng nhận thấy rằng trong vòng xoáy của bão táp thời đại lúc bấy giờ, một dân tộc nhỏ bé, lạc hậu như nước ta không thể đủ sức chống lại một nước phương Tây hùng mạnh.
Ông trăn trở và nhận thấy rằng, đấu tranh văn hóa là một trong những con đường hứa hẹn mang lại thành công cho sự nghiệp cứu nước. Làm Viện trưởng Viện dân biểu để đại diện cho nhân dân nói lên những quyền lợi của mình, thành lập Công ty Huỳnh Thúc Kháng chuyên về In và báo chí, ra đời báo Tiếng Dân (10 – 08 – 1927), đó là một bước rẽ lịch sử đánh dấu một bước chuyển mới cao hơn về chất, quyết liệt hơn về tư tưởng của nhà chí sĩ họ Huỳnh. Sự kiện một nhà nho chí sĩ ra làm báo, mà lại đứng đầu trên trận tuyến chống quân thù (ông vừa làm chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Tiếng Dân), giữa vòng xoáy mờ mịt của “văn hóa nô dịch” mà những tờ báo do Pháp lập ra và bảo hộ đang làm mưa làm gió (Nam Phong tạp chí, Đông Dương tạp chí), quả là một sự kiện lớn mà những người cùng thời với ông, ngoài Ngô Đức Kế – chủ bút báo Hữu Thanh (1921) ra không có nhiều người đủ can đảm và niềm tin để lựa chọn và theo đuổi. Đầu những năm 1940, trong cơn chính biến của cả thế giới, trong nước Nhật đảo chính Pháp, nắm lấy toàn bộ quyền hành trong tay, để “thu phục nhân tâm”, ổn định dư luận, lẽ đương nhiên người Nhật phải tìm đến những nhân sĩ “có máu mặt”, có đủ uy tín và tài năng kéo theo mình đám đông quần chúng nhân dân.
Một lần nữa cái tên Huỳnh Thúc Kháng trở thành “địa chỉ nóng”. Phát xít Nhật bày đủ trò từ dụ dỗ, dọa dẫm những mong được Huỳnh Thúc Kháng nhận lời ra giúp sức cho chính phủ bù nhìn của chúng, nhưng một lần nữa chí khí khảng khái, tấm lòng yêu nước kiên trung của ông lại thể hiện, ông thẳng thắn từ chối cộng tác với Nhật. Cách mạng tháng Tám thành công, chế độ phong kiến tồn tại hàng ngàn năm ở nước ta bị đánh đổ, chính quyền cách mạng được thành lập hướng nhân dân tiến bước theo mục tiêu độc lập dân tộc và xây dựng chế độ cộng hòa.