CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO VIỆC THIẾT LẬP HỆ THỐNG TÀI KHOẢN VÀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRONG ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN CÔNG QUỐC TẾ VÀO ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP TẠI VIỆT NAM 1. TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN 1. Bản chất của kế toán Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động Có thể nhận thấy qua định nghĩa trên, để theo dõi và đo lường kết quả hoạt động đơn vị, cung cấp thông tin tài chính cần thiết cho việc ra quyết định của các đối tượng sử dụng thông tin, kế toán thực hiện một quá trình gồm có 3 hoạt động: thu thập, xử lý và cung cấp thông tin. Phân loại kế toán Nếu căn cứ vào đối tượng cung cấp thông tin, kế toán gồm có 2 loại: - Kế toán tài chính: cung cấp thông tin cho tất cả các đối tượng.
Kế toán tài chính phải tuân theo quy định và chuẩn mực kế toán - Kế toán quản trị: cung cấp thông tin cho nội bộ đơn vị để ra các quyết định nội bộ. Kế toán quản trị không tuân theo quy định và chuẩn mực Nếu căn cứ vào hình thức sở hữu, kế toán được chia làm 2 loại: - Kế toán tư: Kế toán ở các đơn vị, tổ chức được thành lập hướng đến mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận. Ví dụ như kế toán doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần… - Kế toán công: Kế toán ở các đơn vị công, các đơn vị tổ chức được thành lập bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước hoặc cung cấp dịch vụ công cho xã hội mà không hướng đến việc tìm kiếm lợi nhuận. Chuẩn mực kế toán và Chế độ kế toán 1.
Khái niệm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 “Chuẩn mực kế toán gồm những nguyên tắc và phương pháp kế toán cơ bản để ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính” [15, trang 1] Chuẩn mực kế toán gồm có 2 loại: Chuẩn mực kế toán trong lĩnh vực tư và Chuẩn mực kế toán trong lĩnh vực công. Chế độ kế toán là những quy định và hướng dẫn về kế toán trong một lĩnh vực hoặc một số công việc cụ thể do cơ quan quản lý nhà nước về kế toán hoặc tổ chức được cơ quan quản lý nhà nước về kế toán uỷ quyền ban hành. Cách thức ban hành Chuẩn mực kế toán trên thế giới Chuẩn mực kế toán được xây dựng và ban hành dưới nhiều hình thức khác nhau. Tại một số quốc gia như Pháp, Tây Ban Nha, Đức…chuẩn mực kế toán quy định chi tiết cách xử lý nghiệp vụ, sổ sách, báo cáo… Tại một số quốc gia khác, đa số là quốc gia khối Anglo-Saxon như Anh, Hoa Kỳ, Úc…thì chuẩn mực kế toán chỉ đưa ra nguyên tắc, các đơn vị sẽ linh hoạt trong việc áp dụng nhưng phải tuân thủ nguyên tắc của chuẩn mực.
Tổ chức ban hành cũng khác nhau: Canada, Hong Kong,…do Hội nghề nghiệp; Pháp, Trung Quốc… do Chính phủ; Hoa Kỳ, Anh…do Ủy ban độc lập. Ở Việt Nam, chuẩn mực kế toán do Chính phủ, cụ thể là Bộ tài chính ban hành và hướng dẫn chi tiết bởi các thông tư, chế độ. CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP 1. Đặc điểm đơn vị hành chính sự nghiệp 1.
Khái niệm “Đơn vị hành chính sự nghiệp là đơn vị do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập nhằm thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định hay quản lý nhà nước về một hoạt động nào đó; hoạt động bằng nguồn kinh phí NSNN cấp toàn bộ hay cấp một phần và các nguồn khác đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp. Đặc điểm Đơn vị HCSN có những đặc điểm sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Kinh phí để hoạt động lấy từ NSNN (toàn bộ hoặc một phần) theo dự toán được cấp có thẩm quyền giao và duyệt quyết toán. - Các đơn vị HCSN chủ yếu hoạt động phi lợi nhuận. Tuy nhiên, đơn vị HCSN vẫn có thể thực hiện một số hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu lợi nhuận.
- Các khoản thu, chi trong đơn vị HCSN phải tuân theo định mức, chế độ, tiêu chuẩn do Nhà nước qui định hoặc Nhà nước cho phép. - Các đơn vị HCSN trong một ngành dọc được tổ chức thành đơn vị dự toán các cấp: cấp I (phân bổ, quản lý, điều hành ngân sách của mình và cấp dưới trực thuộc), cấp II (trực thuộc cấp I, nhận dự toán từ cấp I để sử dụng cho mình một phần, một phần phân bổ cho cấp III), cấp III (là đơn vị trực tiếp sử dụng ngân sách, đơn vị dự toán cấp III nhận dự toán phân bổ từ đơn vị dự toán cấp I hoặc cấp II) Với những đặc điểm trên có thể hiểu kế toán HCSN là “công việc tổ chức hệ thống thông tin bằng số liệu để quản lý và kiểm soát nguồn kinh phí, tình hình sử dụng, quyết toán kinh phí, tình hình quản lý và sử dụng các loại vật tư, tài sản công, tình hình chấp hành dự toán thu, chi và thực hiện các tiêu chuẩn, định mức thu, chi tại đơn vị” [9, trang 15] 1. Phân loại Các đơn vị HCSN được chia thành các loại chủ yếu sau: - Đơn vị hành chính: là các đơn vị hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực quản lý nhà nước như các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Tổng Cục, Ủy ban nhân dân các cấp,… - Đơn vị sự nghiệp công lập: là các đơn vị hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực cung cấp các dịch vụ công cho xã hội như giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao… - Các tổ chức đoàn thể xã hội: Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn lao động Việt Nam, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh… 1.Khái niệm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Tài khoản kế toán là phương pháp kế toán dùng để phân loại và hệ thống hóa các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh theo nội dung kinh tế và theo trình tự thời gian. Phương pháp tài khoản có một số đặc điểm: - Về hình thức: là sổ kế toán được dùng để ghi chép số hiện có cũng như sự biến động của từng loại đối tượng kế toán cụ thể, dựa trên cơ sở phân loại các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo các tiêu thức nhất định - Về nội dung: phản ánh một cách thường xuyên và liên tục sự biến độ của từng đối tượng kế toán trong quá trình hoạt động của đơn vị.
- Về chức năng: kiểm tra, giám sát một cách thường xuyên và kịp thời tình hình bảo vệ và sử dụng từng loại tài sản và từng loại nguồn vốn. - Tài khoản được mở cho từng đối tượng kế toán có nội dung kinh tế riêng biệt tức là mỗi loại tài sản, mỗi loại nguồn vốn, từng loại chi phí, doanh thu, thu nhập sẽ sử dụng một tài khoản riêng. Kết cấu Trong quá trình hoạt động của đơn vị kế toán, các đối tượng cụ thể của kế toán vận động không ngừng, mà sự vận động này bao giờ cũng là sự vận động hai mặt đối lập tăng lên và giảm xuống, chẳng hạn đối với vật tư, hàng hóa thì sự vận động của hai mặt đối lập là nhập và xuất; đối với tiền mặt là thu và chi; đối với tiền vay là vay và trả,… Do đó để phản ánh được hai mặt này, tài khoản kế toán cũng được chia làm hai bên và mỗi bên được qui ước tên gọi riêng là bên Nợ và bên Có, bên trái gọi là bên Nợ, bên phải gọi là bên Có. Mỗi tài khoản được trình bày trong một trang sổ tài khoản kế toán.
Sổ tài khoản kế toán được gọi là sổ cái. Thông thường mẫu trang sổ kế toán như sau: Tên tài khoản. Chứng từ Tài khoản Số tiền Diễn giải Số Ngày đối ứng Nợ Có Số dư đầu kỳ Số phát sinh trong kỳ Số dư cuối kỳ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Kết cấu của tài khoản xác định nội dung ghi chép vào bên Nợ, bên Có và số dư của tài khoản. Mỗi tài khoản kế toán có kết cấu cụ thể riêng, song có thể khái quát chung kết cấu của từng loại của tài khoản như sau: 1.
Tên của tài khoản: Tên của đối tượng kế toán mà tài khoản phản ánh 2. Phần bên trái tài khoản gọi là bên Nợ 3. Phần bên phải tài khoản gọi là bên Có. Khi có nghiệp vụ kinh tế phát sinh làm biến động đối tượng kế toán được phản ánh vào tài khoản.
Sự biến động tăng và giảm của đối tượng kế toán gọi là số phát sinh, nếu ghi vào bên trái của tài khoản gọi là ghi Nợ, ghi vào bên phải của tài khoản gọi là ghi Có. Số dư tài khoản: là khoản sai biệt giữa tổng số ghi nợ và tổng số ghi có. Nếu tổng số ghi nợ lớn hơn tổng số ghi có, tài khoản có số dư nợ. Trái lại, nếu tổng số ghi có lớn hơn tổng số ghi nợ, tài khoản có số dư có.Phân loại tài khoản Tài khoản kế toán về cơ bản được phân loại vào 4 nhóm: - Nhóm các tài khoản phản ánh tài sản - Nhóm các tài khoản phản ánh nguồn vốn - Nhóm các tài khoản trung gian dùng để phản ánh các quá trình hoạt động khác nhau trong đơn vị - Nhóm các tài khoản ngoài bảng 1.
Nguyên tắc ghi chép vào tài khoản Nguyên tắc ghi chép trên các tài khoản phản ánh tài sản Được thực hiện theo phương pháp “ghi kép”, nghĩa là khi ghi vào bên Nợ của một tài khoản thì đồng thời phải ghi vào bên Có của một hoặc nhiều tài khoản khác hoặc ngược lại. Bên Nợ: - Số dư đầu kỳ - Số phát sinh tăng trong kỳ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 - Số dư cuối kỳ Bên Có: Số phát sinh giảm trong kỳ Số dư đầu kỳ được chuyển từ số dư của cuối kỳ trước Số phát sinh tăng trong kỳ là số tổng cộng bên Nợ của tài khoản Số phát sinh giảm trong kỳ là số tổng cộng bên Có của tài khoản Nguyên tắc ghi chép trên các tài khoản phản ánh nguồn vốn Cũng được thực hiện theo phương pháp “ghi kép” như nhóm các tài khoản phản ánh tài sản.