CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỤC TIỄN CỦA ĐÈ TÀI 1. Lưọc sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giói 1. về việc ứng dụng các phần mềm ứng dụng hỗ trợ trong dạy học Lịch sử đã chứng minh, việc ứng dụng CNTT trong dạy học và giáo dục đã trở nên tất yếu.
Khả năng tích hợp máy tính trong giáo dục được tăng lên nhờ có nhũng phát triển lớn về phần cứng và phần mềm máy tính trong nhũng thập kỷ qua. Việc sử dụng máy tính trong dạy học đã mở ra một lĩnh vực kiến thức mới và cung cấp các công cụ hồ trợ đắc lực (mạng internet, các phần mềm, học liệu điện tử.) có khả năng thay đối các phương pháp giáo dục truyền thống. Sheffield (1996) cho rằng do sự phát triển gần đây của công nghệ, máy tính và Internet đã trở thành những công cụ giảng dạy quan trọng hơn trong lớp học, trong nghiên cứu xã hội. Vanfossen (2001) đã chỉ ra, có nhiều người ủng hộ cho rằng có nhiều lợi ích cùa việc sử dụng Internet trong lớp học như khả năng phá vỡ các giới hạn vật lý của lóp học và mở rộng trải nghiệm, phát triển khả năng tự tìm hiểu, phân tích của HS và mở rộng trải nghiệm cùa sinh viên với các công nghệ trực quan.
Theo nghiên cứu của Cơ quan dịch vụ giáo dục (Education Service Agency Region 6&7, 2006), ứng dụng CNTT trong dạy học có những lợi ích quan trọng như “Tác động đến nhiều giác quan của người học. Cho phép người học lựa chọn hình thức học tập phù hợp với phong cách học của cá nhân; Tôn trọng cá nhân khi cho phép người học được lựa chọn cách tạo ra sản phâm hoặc tiếp nhận thông tin; Người học thực sự tạo ra bằng chứng về những gì mình học được và sau này nó có thê trở thành một phần trong hồ sơ NL; Tạo ra bầu không khỉ chủ động trong học tập, đòi hỏi người học phải tham gia và tích cực tư duy; Thúc đấy sự giao tiếp, tương tác giữa HS với nhau và HS với G V. Việc xây dựng dựa trên cuộc sông hàng ngày của người học giúp việc học trở nền có ý nghĩa thực tiễn Nhóm tác giả Md. Aktar Uzzaman, Md.
Rashedul Huq Shamim, Che Kum Clement (2011) đã dựa trên nghiên cứu về khả năng ghi nhớ của trẻ và lý thuyết về mạng lưới thần kinh não người để khắng định tính hiệu quả của ứng dụng CNTT trong dạy học. Nhóm tác giả chia ra những ưu điểm vượt trội của việc sử dụng các học liệu điện tử ”GV và HS không còn phải phụ thuộc hoàn toàn vào những cuốn sách in và các tư liệu, phương tiện vật chất khác trong thư viện (với số lượng có hạn). Với sự hỗ trợ của Internet, các trang web với một sổ lượng không lồ học liệu điện tử cho hầu hết các môn học có thê truy cập, sử dụng ở bất cứ nơi nào, bất cứ thòi điểm nào và không giới hạn sổ lượng người truy cập. Điều này thực sự có ỷ nghĩa đối vói giáo dục ở các quốc gia phát triển, thậm chỉ có thê coi đây là trọng tâm của việc đôi mới giảo dục trong thế kỉ XXI”.
Trong đại dịch Covid-19, nhiều quốc gia đã phải chịu ảnh hưởng nặng nề ở nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống, từ các lĩnh vực xã hội, kinh tế cho đến giáo dục; buộc tất cả các cơ sờ giáo dục phải đóng cửa và chuyển sang các hoạt động học tập trực tuyến. Điều này được kỳ vọng sẽ có thể giúp ngăn chặn và phá vỡ chuồi lây truyền của dịch bệnh; bên cạnh việc học tập vần phải được thực hiện nhằm đảm báo quyền học tập của HS. Tuy nhiên, việc học tập trực tuyến được thực hiện trong thời kỳ đó không mang lại kết quả cao do một vài lý do như NLS của GV và HS còn hạn chế, HS chưa quen với các mô hình học tập trực tuyến dẫn đến mức độ tham gia và hiệu quả học tập còn chưa cao. HS gập khó khăn trong việc tiếp cận tài liệu và chủ động tìm kiếm thông tin thay vì được GV cung cấp.
Chính vì vậy, sau đại dịch, ngày càng có nhiều nghiên cứu về ứng dụng CNTT đã được thực hiện; không chỉ để phục vụ trong giai đoạn giãn cách mà còn hướng tới sự thay đổi trong phong cách học tập. Với sự phát triến của công nghệ, đã có rất nhiều tài nguyên, phần mềm giáo dục được xuât bản bao gôm các bài học, bài tập, video, trò chơi giáo dục, các ứng dụng iPad và các phương tiện khác với tính tương tác cao như: phần mềm thiết kế bài giảng điện tử (Adobe Presenter, Lecture Maker, Avina Authoring Tools), phần mềm thí nghiệm ảo (Yenka, Crocodile Physics), các trò chơi học tập (Math Land, Logic Land, Play and Learn Science). Ngoài ra thông qua website, một số quốc gia còn thiết kế và đang giới thiệu các phần mềm, ứng dụng dành cho việc dạy, học đặc biệt là môn KHTN ở cấp THCS với nhiều kiến thức bổ ích và lý thú. Có thể kể đến các website tiêu biểu như: Kahoot!, Quizziz, Liveworksheets, Nearpod, Mozabook.
Trong đó, Liveworksheets là một trong số các phần mềm được sử dụng rộng rãi hiện nay, địa chỉ truy cập tại website trực tuyến: https://www. Năm 2021, nhóm tác giả Nissa Ilma Mukti và cộng sự đã nghiên cứu việc sử dụng phương tiện học tập trên nền tảng trực tuyến Liveworksheets để tạo điều kiện thuận lợi thúc đấy sự sẵn sàng giao tiếp trong học sinh khi học ngôn ngữ thứ hai [281. Tác giả Farman, Fitriyani Hali và Muhammad Rawal (2021) cũng nghiên cứu việc sử dụng Liveworksheets trong dạy học môn Toán trực tuyến trong đại dịch Covid 19 [21], Năm 2022, nhóm tác giả Marwan Pulungan và cộng sự đã nghiên cứu và xây dựng bài tập điện tử cho học sinh tiểu học dưới dạng truyện tranh. Ket quả nghiên cứu cho thấy việc sử dụng phần mem Liveworksheets để thiết kế dạng bài tập dưới dạng câu chuyện minh họa đã giúp HS vui vẻ hơn khi học, hứng thú học tập và giúp HS dễ hiểu tài liệu học tập hơn.
Ngoài ra, nghiên cửu cũng chỉ ra hũư ích của phần mềm trong việc giúp GV dễ dàng kiểm tra bài làm của HS hơn và HS cũng thuận tiện trong việc nộp bài tập của mình mà không bị giới hạn bởi khoảng cách [25], Không chỉ áp dụng với đối tượng HS, tác giả Hasnawati và cộng sự (2022) cũng tiếp tục nghiên cứu và sử dụng phần mềm Liveworksheets như công cụ để đo lường và đánh giá mức độ hiểu biết các khái niệm môn Khoa học tự nhiên của các sinh viên khoa giáo dục tiểu học [24]. Vê năng lực sô Trên thế giới, trong những năm gần đây với sự phát triển bùng nổ của CNTT ờ mọi lĩnh vực, những nghiên cứu về NLS được nhiều nhà khoa học quan tâm đến, trong đó chủ yếu làm rõ ở những nội dung về: (1) Tại sao cần phát triển năng lực số Các nhà giáo dục trên thế giới đã đứng trước những thách thức trong nhiều thập kỷ qua bởi rất nhiều công nghệ được thiết kế để hồ trợ cho việc dạy và học. Trong khi truyền hình, máy vi tính, phần mềm thuyết trình và chương trình mô phỏng đã được sử dụng với mức độ thành công khác nhau, phần lớn những gì diễn ra trong giáo dục vẫn tiếp tục dựa vào sự tương tác giữa GV và HS trong các lớp học truyền thống.Tuy nhiên, với sự xuất hiện của Internet và World Wide Web vào những năm 1990, công nghệ trực tuyến đã bắt đầu tiếp cận sâu vào lớp học truyền thống. Trong những năm đầu thế kỷ 21, các nghiên cứu xoay quanh việc tích hợp CNTT có ảnh hưởng như thế nào tới việc học tập, thành tích của HS; có giúp hình thành kiến thức, hiếu biết sâu hơn về môn học hay không.
Gần đây với sự thành công của việc tiếp nhận, sử dụng công nghệ kỳ thuật số trong trường học và giáo dục, các nghiên cứu khám phá được chuyển trọng tâm sang vai trò của CNTT đối với hình thành NLS của người học, phát triển kiến thức, kỹ năng và thái độ để phù hợp với học tập suốt đời [31 ]. Ba lí do chính thể hiện được tầm quan trọng của việc phát triển NLS gồm: do nhu cầu xã hội; NLS phát triển các năng lực khác; các hoạt động phát triển cá nhân dựa trên tài nguyên số. Bộ Giáo dục và Nghiên cứu Na Uy trong cuộc cải cách giáo dục mới nhất cũng khẳng định, NLS trở thành kỳ năng cơ bản thứ 5; cùng với các kỳ năng đọc, viết, toán học và kỳ năng nói. NLS càng được quan tâm nhiều hơn trong giáo dục so với trước đây sau đại dịch Covid 19.
Nhiều tố chức giáo dục và học thuật đã sử dụng công nghệ số trong các khóa học, kéo theo những yêu cầu của NLS của người học (Villela và cộng sự, 2020)[31 ]. Học tập kỳ thuật số có hiệu quả trong việc tăng cường sự tham gia học tập của HS, sinh viên. Tuy nhiên, hiệu quả của việc học tập này lại phụ thuộc phần lớn vào NLS của người học. Chính vì vậy, việc phát triển NLS là ngày càng cần thiết trong tương lai.
(2) Cách đảnh giá năng lực số Vào năm 2012, ủy ban Châu Âu đã xuất bản khung NLS dựa trên 5 lĩnh vực và 21 năng lực, bao gồm khái niệm về trình độ kĩ thuật sổ [22], UNESCO, 2019 cũng đã đưa ra tài liệu về tiêu chuẩn năng lực CNTT cho GV [32], Cấu trúc NLS khá phức tạp, gồm nhiều thành tố cấu thành và phụ thuộc vào từng lình vực nghề nghiệp cụ thể, điều nay khiến cho việc đánh giá NLS trở nên khó khăn. Hiện nay, ba phương pháp tiếp cận chính để đánh giá NLS gồm: phương pháp tự đánh giá (self-assessment), phương pháp đánh giá dựa trên kiến thức (knowledge-based assessments), phương pháp đánh giá dựa trên sự thực hiện (performance- based assessments) [12J. Thông qua việc phân tích ba phương pháp tiếp cận cùng với các bộ công cụ đánh giá tương ứng như: công cụ Ikanos, Digital skills Accelerator, Northstar Digital Literacy Assessment., bộ công cụ đánh giá NLS dựa trên khung NLS DigComp được UNESCO công nhận là khung NLS cập nhật và toàn diện nhất hiện nay. Thang đo các mức độ thành thạo về NLS của khung Digcomp được thiết kế giữa các phiên bản cỏ sự cập nhật từ ba mức độ: cơ bản, trung bình, nâng cao lên 8 mức để hồ trợ việc phát triển các tài liệu học tập và đào tạo về NLS [12], Đe hình thành và phát triển NLS ở người học, mô hình đã tích hợp các khóa học, tiềm năng phương pháp luận và những hoạt động sư phạm cần thiết.