Chương 1 TỔNG QUAN NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI “Chúng ta đang đứng trong cuộc cách mạng công nghệ sẽ làm thay đổi cơ bản cách chúng ta sống, cách chúng ta làm việc và cách chúng ta kết nối với nhau… Tốc độ của cách mạng này là bước đột phá chưa từng có tiền lệ trong lịch sử loài người” [148]. Trong nền kinh tế tri thức, sự phát triển mạnh mẽ của CNTT làm cho việc số hóa dữ liệu trở nên dễ dàng. Mọi loại thông tin, số liệu, âm thanh, hình ảnh. có thể được đưa về dạng kĩ thuật số để bất kì máy tính nào cũng có thể lưu trữ, xử lí.
Đối với giáo dục, CNTT đã đưa đến cơ hội cho sự phát triển và mở rộng việc sử dụng HLĐT. Để phục vụ cho nghiên cứu của mình, chúng tôi tập trung vào hai hướng tiếp cận là thiết kế và sử dụng HLĐT trong dạy học nói chung, DHLS nói riêng với các hình thức sử dụng đa dạng trên thế giới và ở Việt Nam. Các công trình nghiên cứu về học liệu điện tử và sử dụng học liệu điện tử trong dạy học 1. Ở nước ngoài Sự phát triển của CNTT đã đưa đến sự gia tăng đáng kể của các loại phương tiện trực quan hiện đại, trong đó có HLĐT.
Xét trên quan điểm của lý luận dạy học hiện đại, các phương tiện công nghệ nói chung và HLĐT nói riêng là một loại phương tiện trực quan. Nghiên cứu về CNTT và HLĐT chỉ mới xuất hiện phổ biến vào thập niên cuối của thế kỉ XX, song những nguyên tắc về dạy học đảm bảo tính trực quan trong dạy học đã có quá trình phát triển lâu dài. Tầm quan trọng của nguyên tắc trực quan trong dạy học được học giả, các nhà nghiên cứu giáo dục qua nhiều thế kỉ khẳng định và ngày càng làm rõ hơn: Từ thế kỉ XVII, Jan Amos Comenxki người đầu tiên trong lịch sử giáo dục đã thiết kế hệ thống các nguyên tắc dạy học khá hoàn chỉnh dựa trên cơ sở khoa học nhất định. Tác giả đề cao “nguyên tắc trực quan trong dạy học (đề cao cảm giác, nhận thức cảm tính)” [31, tr.91] và chỉ rõ:“Bước đầu của nhận thức, không còn nghi ngờ gì nữa, bao giờ cũng bắt đầu từ cảm giác (vì không có cái gì tồn tại trong nhận thức mà lại chưa tồn tại trong cảm giác)” [31, tr.
Từ đó, Comenxki khẳng định trực quan là “nguyên tắc vàng ngọc” của GV trong dạy học. Bước sang thế kỉ XIX, nhà giáo dục nổi tiếng người Nga, Ushinsky Konstantin 7 Dmitrievich (1824-1870) cũng đưa ra nhiều quan điểm về lý luận dạy học quan trọng trong hai cuốn sách “The Children's World (1861)” và “The Mother Tongue (1864)”. Qua hai cuốn sách này có thể thấy sự tương đồng về quan điểm của Ushinsky và Comenxki khi nói về nguyên tắc trực quan trong dạy học. Ushinsky cho rằng: “GV nào có kỳ vọng phát triển trí tuệ cho trẻ em thì trước hết cần phải luyện tập năng lực quan sát của chúng, dẫn chúng đi từ tri giác tổng hợp đến sự tri giác định hướng, phân tích” [47, tr.
Trong thế kỉ XX, các nghiên cứu của Edgar Dale, I. giải thích cụ thể hơn về vai trò của nguyên tắc trực quan trong dạy học: Theo Edgar Dale trong cuốn: “Phương pháp trực quan trong dạy học” (Audio - Visual Methods in Teaching, Dryden Press, 1946): “GV cần phải hiểu rõ tầm quan trọng của việc sử dụng phương tiện trực quan bởi khi được sử dụng hợp lý nó sẽ giúp việc giảng dạy đạt hiệu quả cao”. Từ đó, Dale khuyên GV “nên tự trang bị cho mình kĩ năng sử dụng phương tiện trực quan để có thể sử dụng nó như một công cụ mạnh mẽ hỗ trợ dạy học” [101, tr. Đồng thời, ông cũng đưa ra nguyên tắc quan trọng để phân loại phương tiện nổi tiếng được gọi là “nón trải nghiệm Dale” (cone of experience).
Theo “nón trải nghiệm Dale”, với các loại phương tiện, học liệu khác nhau, sự trải nghiệm của người học cũng sẽ khác nhau, và hiệu quả giáo dục đạt được sẽ phân bổ theo dạng thức hình nón. Nón trải nghiệm Dale [101, tr.39] Như vậy, HLĐT được thiết kế sẽ không thuần túy sử dụng để trình bày, cụ thể hóa, giới thiệu nội dung kiến thức mà cần phải khuyến khích được quá trình học tập 8 của người học, và chuyển nó từ một hành vi học thuần túy tiếp nhận thụ động sang một hành vi học có tính tích cực. Kharlamôp trong cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào?” (Bản tiếng Việt, NXB Giáo dục, 1978) cũng khẳng định vai trò của dạy học trực quan là thúc đẩy việc gắn liền lý thuyết với thực tiễn. Đồng thời khẳng định chức năng của dạy học trực quan không đơn thuần để thực hiện các mục tiêu nhận thức bậc thấp mà còn là cơ hội để HS phát triển tốt hơn khả năng tư duy: “Việc dạy học trực quan không những làm cho quá trình học tập thêm sinh động.
Nó còn góp phần rèn luyện tư duy phân tích, học tập cho các em nhìn thấy bản chất của các đối tượng và hiện tượng ẩn sau các hình thức và biểu hiện bề ngoài, kích thích tính ham hiểu biết của các em…” [47, tr. Tác giả cũng giải thích cụ thể lí do sử dụng tính trực quan trong dạy học là góp phần phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của HS: “Khi biểu diễn các phương tiện trực quan, biểu diễn thí nghiệm, GV đã động viên sức chú ý của học sinh và huy động không những thính giác, mà cả thị giác, và trong một số trường hợp cả khứu giác và xúc giác của học sinh tham gia vào việc lĩnh hội tài liệu nghiên cứu” [47, tr. Sự phát triển mạnh mẽ của CNTT và các hình thức học tập dựa trên nền tảng công nghệ đã tác động mạnh mẽ đến giáo dục truyền thống. Bên cạnh các nghiên cứu về tính trực quan nói chung, xuất hiện ngày càng nhiều nghiên cứu về phương tiện DH hiện đại, CNTT, trong đó có HLĐT trong dạy học.
Phân tích sự khác biệt của người học từ hứng thú, sở thích đến nhu cầu học tập, các tác giả của cuốn: “Hướng tới mục tiêu: Chiến lược dạy học phân hóa” (On Target: Strategies That Differentiate Instruction, Education Service Agency Region 6 & 7, 2006) đã đề xuất các chiến lược học tập đa dạng tôn trọng sự khác biệt giúp người học học tập hiệu quả hơn, tham gia tích cực hơn vào các hoạt động học tập và được mỉm cười nhiều hơn trong lớp học. Một trong số các chiến lược đó là sử dụng CNTT trong dạy học phân hóa (Differentiating Instruction with Technology), cụ thể là HLĐT. Tác giả đã chỉ ra sáu lợi ích cơ bản của HLĐT: - Tác động tới nhiều giác quan của người học. Cho phép người học lựa chọn hình thức học tập phù hợp với phong cách học của cá nhân.
- Tôn trọng cá nhân khi cho phép người học được lựa chọn cách tạo ra sản phẩm hoặc tiếp nhận thông tin. 9 - Người học thực sự tạo ra bằng chứng về những gì mình học được và sau này nó có thể trở thành một phần trong hồ sơ năng lực. - Tạo ra bầu không khí chủ động trong học tập, đòi hỏi người học phải tham gia và tích cực tư duy. - Thúc đẩy sự giao tiếp, tương tác giữa HS với nhau và HS với GV.
- Giúp việc học mang ý nghĩa thực tiễn vì nó được xây dựng dựa trên cuộc sống hàng ngày của người học [104, tr. Trong đó, trang web học tập là HLĐT được tác giả đặc biệt chú trọng với nhiều đặc trưng nổi bật: “Phù hợp với các phong cách học tập khác nhau. Đồ họa, hình ảnh, video hỗ trợ cho người học theo kiểu nhìn. Trong khi đó những công cụ tương tác sẽ phù hợp với người học theo kiểu vận động.
Người học theo kiểu nghe sẽ học tốt hơn với video, âm thanh và người học theo kiểu văn bản sẽ tìm thấy những nội dung đọc và viết thú vị hơn so với việc sử dụng giấy/bút truyền thống” [104, tr. Như vậy, chính tính năng đa dạng, phù hợp với nhiều kiểu học và khả năng phân hóa người học là những lý do quan trọng để việc sử dụng HLĐT dưới hình thức trang web học tập cần có nhiều cơ hội để triển khai trong thực tế dạy học. GV nên căn cứ vào kiểu học, năng lực cụ thể của HS để lựa chọn và sử dụng HLĐT hiệu quả. Trong bài viết:“Công nghệ thông tin, dạy học trực tuyến và sự phát triển của GV” (IT, e-learning and teacher development, Shannon Research Press, 2005), tác giả Jonathan Anderson khẳng định: vai trò của GV và HS; cấu trúc lớp học và nội dung học tập là ba phương diện có những thay đổi mạnh mẽ dưới tác động của CNTT.
Trong đó, GV từ “nhà hiền triết” trở thành “người hướng dẫn”. Cùng với sự thay đổi vai trò của GV và người học, toàn bộ cấu trúc của trường, lớp cũng có sự biến đổi: “Các lớp học đóng kín („Closed door‟) đã thay đổi trở thành không gian học tập mới: không giới hạn trong bốn bức tường của lớp học, mở rộng cơ hội giao tiếp và chia sẻ xã hội của người học. Trọng tâm của việc giảng dạy được chuyển từ ghi nhớ sự kiện (memorising facts) sang học tập gợi mở (inquiry-based learning)” [113, tr. Do đó, mỗi GV cần nhận thức được sự thay đổi này để phát triển kĩ năng sử dụng CNTT nói chung, sử dụng HLĐT nói riêng trong lớp học.
Những thay đổi vai trò của người học và GV trong môi trường học tập HS làm trung tâm và GV làm trung tâm dưới tác động của CNTT [113, tr.3] Môi trƣờng học tập GV làm trung tâm Ngƣời học làm trung tâm Vai trò của người học Vai trò của người học - Tiếp nhận thông tin thụ động - Chủ động tham gia vào quá trình học tập - Tái hiện kiến thức - Tìm kiếm và chia sẻ kiến thức với vai trò như - Hoạt động đơn độc một chuyên gia - Cộng tác với người khác Vai trò của GV Vai trò của GV - Cung cấp kiến thức - Cung cấp cho người học các lựa chọn và trách nhiệm - Kiểm soát và chỉ đạo tất cả các hoạt động trong việc học của bản thân - Hướng dẫn, hỗ trợ, cộng tác Nghiên cứu sâu về các kĩ năng của GV trong thế kỉ XXI, tác giả Chris Kyriacou trong cuốn: “Các kĩ năng dạy học cơ bản” (Essential Teaching Skills, Nelson Thornes Ltd, 2007) cho rằng: mỗi GV thành công cần hoàn thiện tốt bảy kĩ năng thiết yếu sau: 1.Lập kế hoạch và chuẩn bị bài học; 2. Thực hiện bài học; 3. Quản lí bài học; 4. Quản lí lớp học; 5.Sử dụng kỉ luật trong lớp học; 6.