Mở đầu. - Phần II: Nội dung. - Phần III: Kết luận và kiến nghị. Ngoài ra còn có tài liệu tham khảo và phụ lục.
Phần nội dung chính có 3 phần: Bao gồm: + Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài. + Chƣơng 2: Xây dựng hệ thống CH, BT phần Sinh lý học động vật dùng cho bồi dƣỡng học sinh giỏi. + Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm. 6 c CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Trên thế giới Trên thế giới, các nội dung về dạy – học đã đƣợc nghiên cứu từ rất sớm. John Dewey (1859-1952) đã phát biểu: “Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phƣơng tiện giáo dục”. Và một loạt các PPDH theo quan điểm này đã đƣợc sử dụng: Phƣơng pháp dạy học hợp tác; phƣơng pháp dạy học nêu vấn đề; phƣơng pháp dạy học dự án; phƣơng pháp công não; các phƣơng pháp dạy học tích cực khác.
Đây là các phƣơng pháp mà GV tổ chức các hoạt động hoặc sử dụng hệ thống CH để để kích thích hoạt động học tập của HS và lĩnh hội tri thức. Những năm đầu thế kỉ XX, các nhà sƣ phạm Mỹ đã xây dựng lí luận cho PPDH dự án. Để thực hiện phƣơng pháp này, ngƣời học cần phải thực hiện một chuỗi các nhiệm vụ học tập gồm: xác định mục đích, lập kế hoạch sau đó thực hiện dự án. Học sinh cũng phải kiểm tra lại, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện dự án đã đề ra.
Phƣơng pháp sử dụng sơ đồ tƣ duy đƣợc Tony Buzan đã đề xuất giúp ngƣời học phát triển tƣ duy. Ngƣời học có thể hệ thống hóa các kiến thức, mở rộng và nhấn mạnh các ý tƣởng, kết nối chúng với nhau từ đó có thể bao quát đƣợc kiến thức trên một phạm vi sâu rộng. [31] Năm 1984, dựa trên kết quả về việc "Khảo sát nhiệm vụ thực hành trong các môn khoa học bậc ĐH". Spickler và một số nhà giáo dục Bắc Mỹ đã chỉ ra rằng: Cần thiết phải đƣa HS tham gia vào quá trình học tập tích cực; nâng cao trách nhiệm của học sinh, HS lựa chọn và thực hiện các thí nghiệm một cách hứng thú; đồng thời HS phải sử dụng nhiều kỹ năng xử lý thí nghiệm, đáp ứng đƣợc yêu cầu tự nghiên cứu, tự học, phát triển năng lực tƣ duy và phát huy tính sáng tạo khi thực hiện nhiệm vụ học tập.
7 c Năm 1930, Alex Born đã đƣa ra kĩ thuật công não - một kĩ thuật đề cập đến việc tìm ra lời giải cho vấn đề nào đó bằng cách tập hợp tất cả các ý kiến của mọi ngƣời phát sinh trong cùng một khoảng thời gian theo một quy tắc đƣợc đề ra từ trƣớc. Năm 2008, tác giả Adam Khoo xuất bản Cuốn sách Tôi tài giỏi, bạn cũng thế! Nội dung cuốn sách đã phản ánh tiềm năng trí tuệ, sự thông minh, sang tạo của con ngƣời vƣợt xa khỏi những gì chúng ta đã biết tới và đang suy nghĩ. Ở Việt Nam Việc xây dựng và sử dụng CH của giáo viên trong quá trình dạy học là một yếu tố vô cùng quan trọng. Những giáo viên giảng dạy nhiều năm cho rằng, thiết kế và sử dụng CH trong quá trình giảng dạy là vấn đề hết sức khó khăn, phức tạp.
CH không chỉ là kiến thức mà còn là kinh nghiệm sống, là nghệ thuật trong tình huống cụ thể. Vì vậy, nhiều ngƣời cho rằng, thông qua CH ta có thể biết ngay trí tuệ của một ngƣời nào đó. Bên cạnh đó, lƣợng kiến thức Sinh học rất đa dạng, thể hiện ở nhiều lĩnh vực, điều đó dễ khiến học sinh quá tải và dần lãng quên. Do đó, cần thiết xây dựng một hệ thống CH giúp học sinh có thể dễ dàng hệ thống hóa các nội dung bài học, khắc sâu kiến thức.
Khi nghiên cứu về việc sử dụng hệ thống CH, BT, chúng tôi đã tìm đƣợc một số nguồn tài liệu nhƣ sau: Tác giả Trần Bá Hoành, với “Dạy học lấy ngƣời học làm trung tâm” đã đề cập đến các kĩ thuật đặt CH sử dụng trong dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh. [20] Trong “Kĩ thuật dạy học sinh học” tác giả Trần Bá Hoành đã đề cập đến việc cần phải chú ý rèn luyện phƣơng pháp tự học cho HS.[23] Các luận văn, luận án và tài liệu khác tôi có tham khảo: Luận án: “Sử dụng CH, BT trong dạy học sinh học” của tác giả Đinh Quang Báo (1991) đã cung cấp những cơ sở lí thuyết quan trọng về việc sử dụng CH, BT trong dạy học sinh học. 8 c Luận án tiến sỹ: “Sử dụng CH, BT để tích cực hoá hoạt động của HS trong dạy học sinh thái học 11- THPT” của Lê Thanh Oai (2003) cũng là một tài liệu giúp định hƣớng cho GV về các phƣơng pháp và kĩ năng thiết kế CH, BT trong các bƣớc của quá trình lên lớp. Chuyên đề: “CH, BT trong dạy học sinh học” (dùng cho cao học).
TS Lê Đình Trung cũng rất hữu ích. + Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Bích Ngọc “Sử dụng CH, BT để rèn luyện năng lực tự học SGK sinh học THPT cho học sinh qua dạy học phần sinh học vi sinh vật” (2008) Luận văn thạc sĩ của Đặng Thị Giao Thủy: “Xây dựng và sử dụng hệ thống CH, BT rèn luyện năng lực sáng tạo cho HS qua dạy học phần Sinh học tế bào - chƣơng trình Trung học phổ thông” (2016) Trong kết quả nghiên cứu của mình, các tác giả đều chỉ ra rằng việc sử dụng hệ thống CH, BT trong dạy học là phƣơng pháp, phƣơng tiện hiệu quả để ngƣời dạy tổ chức hoạt động học tập cho HS. Đồng thời các tác giả cũng đƣa ra các nguyên tắc, qui trình xây dựng cũng nhƣ biện pháp sử dụng CH, BT trong DHSH nói chung và trong DH từng phần khác nhau của chƣơng trình sinh học THPT nói riêng. Tuy nhiên, các đề tài cũng chƣa đƣa ra đƣợc qui trình cụ thể về thiết kế, sử dụng CH/BT theo các bƣớc để giáo viên có thể vận dụng.
Đặc biệt, cho đến nay chƣa có một đề tài nào nghiên cứu một cách hệ thống về cơ sở lí luận, thiết kế và sử dụng CH, BT trong dạy học chuyên đề sinh lí học động vật – sinh học 11, THPT chuyên. Vì vậy, tác giả tiến hành nghiên cứu để xây dựng các qui trình thiết kế, sử dụng CH, BT đồng thời tiến hành xây dựng hệ thống CH, BT để đƣa vào sử dụng trong học tập và giảng dạy. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Khái niệm câu hỏi, bài tập 1.1 Câu hỏi Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê chủ biên, Trung tâm Từ điển ngôn ngữ, Hà Nội – 1992, (trang 455) thì “Hỏi” có nghĩa là: 9 c - Bày tỏ những điều mình mong muốn thông qua việc trả lời.
- Nói ra những điều mình cần ngƣời ta đáp ứng. Theo Đại từ điển tiếng Việt, “CH là câu biểu thị sự cần biết hoặc không rõ với những đặc trƣng của ngữ điệu và từ hỏi”. Trên thế giới, Socrate ngày trƣớc đƣợc biết đến là ngƣời thuyết phục giỏi nhất thế giới. Ông đã rất thành công trong việc bán những ý kiến của mình đến nỗi ngày nay ngƣời ta vẫn còn học hỏi ông.
Yếu tố quyết định lớn nhất đến sự thành công của ông chính là đƣa ra những CH. Aristotle cho rằng, đặc trƣng cơ bản của CH chính là ngƣời hỏi cần phải lựa chọn các cách thức có tính trái ngƣợc nhau, từ đó giúp con ngƣời phải có cách hiểu khác nhau. Theo Aristotle, CH là một mệnh đề trong đó phải chứa đựng cả cái đã biết và cái chƣa biết. Đềcac lại cho rằng, nếu không có CH thì sẽ không thể xuất hiện tƣ duy cá nhân và cũng không có tƣ duy nhân loại.
Ông đã chỉ ra dấu hiệu bản chất của CH, đó là CH phải có mối quan hệ giữa những cái đã biết và cái cần biết. Chủ thể nhận thức chỉ xác định đƣợc phƣơng hƣớng cần làm để trả lời đƣợc CH khi có tỉ lệ phù hợp giữa hai yếu tố này. Khi chủ thể nhận thức xác định đƣợc cái mình đã biết và cái mình cần biết thì lúc đó mới đƣợc đặt CH và khi đó CH mới thực sự trở thành sản phẩm của quá trình nhận thức. Theo GS Trần Bá Hoành, khi sử dụng CH kích thích tƣ duy tích cực của HS là phải đặt ra cho HS một nhiệm vụ chinh phục tri thức, vừa khích lệ vừa đòi hỏi HS phải nỗ lực với trí tuệ cao nhất, tự mình tìm ra câu trả lời thông qua việc sử dụng các kĩ năng tƣ duy so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá để chiếm lĩnh kiến thức mới và đƣợc làm quen với các phƣơng pháp nghiên cứu[22].
Thuật ngữ CH có nghĩa là: Một yêu cầu, một đòi hỏi, một mệnh lệnh đòi hỏi phải trả lời, phải thực hiện. Về cách thức biểu diễn đạt thì ngôn ngữ sử dụng trong CH đều có dạng một mệnh đề nghi vấn, chứa động từ nghi vấn. 10 c Ngoài ra, còn có những cách hiểu khác nhau về CH. Tuy nhiên, dù hiểu nhƣ thế nào thì CH cần thể hiện đƣợc một số yêu cầu sau: + Thể hiện đƣợc sự tƣơng quan giữa cái đã biết và cái chƣa biết, từ những điều đã biết xuất hiện điều cần biết, cần tìm.
Nội dung cái đã biết phải phù hợp với cái chƣa biết, đủ để kích thích và tìm ra cái chƣa biết. + Về hình thức biểu đạt ngôn ngữ, CH là một mệnh đề nghi vấn hay đƣợc diễn đạt bằng một ngữ điệu đặc trƣng. + CH là một phạm trù khái niệm rộng rãi, với mỗi CH cần một lƣợng thông tin thích hợp. Đồng thời, thái độ, trạng thái tâm lí của ngƣời đƣợc hỏi trƣớc những thông tin cũng khác nhau.
Các CH vô cùng quan trọng trong cuộc sống nói chung và trong quá trình dạy học nói riêng. Trong quá trình dạy học, sử dụng CH chỉ là một yếu tố vô cùng quan trọng. Khi giáo viên sử dụng CH phù hợp, hiệu quả sẽ giúp học sinh hiểu bài nhanh chóng và hình thành các kĩ năng tƣ duy ở mức độ cao, hình thành năng lực cho học sinh từ đó sẽ nâng cao chất lƣợng dạy học. Bài tập BT là nhiệm vụ, yêu cầu mà giáo viên đƣa ra cho HS, yêu cầu HS phải biết sử dụng các kiến thức đã biết hoặc các kinh nghiệm thực tiễn, sử dụng các thao tác tƣ duy hay hành kinh nghiệm để giải quyết các nhiệm vụ đó nhằm chiếm lĩnh tri thức.