Đặt vấn đề Trong quá trình đô thị hóa ở nước ta ngày càng tăng cao, để giải quyết vấn đề này nước ta đã có những chính sách nhà ở xã hội được triển khai rộng rãi nhằm cung cấp, chỗ ở với chi phí phù hợp và tiện nghi cho những người có thu nhập thấp, công nhân lao động. Đặc điểm của nhà ở xã hội chính là những căn hộ có diện tích nhỏ gọn, khoảng 40 đến 70 mét vuông, giá cả phù hợp với đối tượng xử dụng. Nhà ở xã hội không chỉ đáp ứng nhu cầu chỗ ở mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống, ổn định xã hội và phát triển kinh tế. Tuy nhiên, một trong những thách thức lớn đối với nhà ở xã hội là việc tối ưu hóa không gian sống nhỏ hẹp mà vẫn đảm bảo tiện nghi và thẩm mỹ.
Nội thất là yếu tố then chốt quyết định đến sự tiện nghi và chất lượng cuộc sống trong những căn nhà ở xã hội. Trong đó, bộ ghế sofa và bàn trà là hai sản phẩm không thể thiếu trong không gian phòng khách - nơi sinh hoạt chung của gia đình và tiếp khách. Việc lựa chọn và sắp xếp ghế sofa và bàn trà sao cho phù hợp với đặc thù của căn hộ đòi hỏi phải cân nhắc về nhiều yếu tố: kích thước, chất liệu, độ bền, phong cách thiết kế và giá thành sản phẩm. Nhận thấy vấn đề và được sự chấp thuận và khuyến khích phát triển đề tài của Bộ môn Kỹ nghệ gỗ, chúng em đã tiến hành thực hiện đề tài “Thiết kế và gia công ghế sofa 2 sheet và bàn trà” để tìm hiểu và làm rõ các vấn đề ở từng khâu sản xuất, đồng thời đưa ra các giải pháp để đóng góp tạo ra bộ sản phẩm đáp ứng nhu cầu sử dụng, vừa đảm bảo tính thẩm mỹ, độ bền cao và chi phí hợp lý.
Đặc biệt, các sản phẩm này phải tối ưu hóa không gian sử dụng, dễ dàng vận chuyển và lắp đặt, những công năng độc đáo, sáng tạo, phù hợp với điều kiện sống của các đối tượng có thu nhập thấp và trung bình.2 Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu của đề tài bao gồm việc thiết kế mẫu ghế sofa và bàn trà đáp ứng được các yêu cầu kích thước nhỏ gọn, tiết kiệm không gian, tính năg độc đáo trong căn nhà ở xã hội, đồng thời xây dựng một quy trình gia công hiệu quả.3 Nội dung nghiên cứu. Khảo sát các mẫu hiện có trên thị trường và nhu cầu củ người tiêu dùng. Khảo sát về nguyên liệu, vật liệu cần dùng để thực hiện sản phẩm. Đưa ra các phương án thiết kế và lựa chọn phương án phù hợp.
1 Lập sơ đồ quy trình công nghệ và thực hiện chế tạo ghế sofa 2 sheet và bàn trà.4 Phương pháp nghiên cứu Để trả lời các câu hỏi nghiên cứu trên, đề tài sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu dựa trên khảo sát nhu cầu và mong đợi của người tiêu dùng, nghiên cứu các mẫu thiết kế và quy trình gia công hiện có, thử nghiệm và đánh giá sản phẩm mẫu. Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở để đưa ra các giải pháp thiết kế và quy trình gia công tối ưu, từ đó tạo ra bộ sản phẩm bàn trà và ghế sofa 2 sheet đáp ứng được yêu cầu của thị trường. Phương pháp khảo sát: - Khảo sát các sản phẩm tương tự trên thị trường. - Khảo sát về nguyên vật liệu sử dụng.
- Khảo sát không gian cần thiết. Phương pháp kế thừa: - Kế thừa các tài liệu có sẵn về lý thuyết nhân trắc học trong thiết kế sản phẩm nội thất. - Kế thừa các tài liệu về thiết kế nội thất của các nhà thiết kế trong nước và trên thế giới. Phương pháp phân tích, đánh giá: - Dựa trên tài liệu kế thừa, tài liệu điều tra khảo sát tiến hành phân tích tổng hợp so sánh đưa ra phương pháp thiết kế.
- Phân tích lựa chọn phương án thiết kế. Phương pháp đồ họa vi tính: Sử dụng các phần mềm đồ họa AutoCad, SketchUp,. để thể hiện và thiết lập hệ thống bản vẽ.5 Ý nghĩa khoa học - Ý nghĩa khoa học: Thiết kế một sản phẩm phù hợp với không gian và nhu cầu sử dụng. Cải tiến quy trình để đưa vào sản xuất đại trà.
- Ý nghĩa thực tiễn: Tạo ra sản phẩm mới, bắt kịp xu hướng và mang lại doanh thu cho doanh nghiệp, đa dạng hóa mẫu mã cho khách hàng lựa chọn. Tạo thêm kinh nghiệm cho việc thiết kế và sản xuất. 2 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 2.1 Tổng quan về ngành chế biến lâm sản Việt Nam.1 Một vài nét chính về ngành chế biến lâm sản từ năm 2023 đến nay. Tại hội nghị “ Giải pháp thúc đẩy sản xuất, chế biến và sản xuất lâm sản năm 2021 và giai đoạn 2021 - 2025” Chính phủ đã cho biết, năm 2020, mặc dù đã chịu tác động lớn của đại dịch Covid-19, nhưng nhân dân chúng ta đã thành công trong phòng chống, kiểm soát dịch bệnh và phục hồi nền kinh tế, xã hội, được quốc tế đánh giá cao.
Kết quả này có sự đóng góp to lớn của các ngành, các cấp, cộng đồng doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực. Trong đó, có đóng góp rất quan trọng của ngành sản xuất, chế biến và xuất khẩu lâm sản. Năm 2022 là một năm gặp nhiều thách thức đối với ngành gỗ Việt Nam. Sau khi các tác động của đại dịch COVID-19 dần lắng xuống, các hoạt động chế biến, sản xuất và xuất nhập khẩu của toàn nền kinh tế nói chung và ngành gỗ nói riêng được từng bước hồi phục với kỳ vọng tăng trưởng tốt sau khi các thị trường quan trọng như Mỹ, Nhật, EU, Trung Quốc, Hàn Quốc,.
đã mở cửa trở lại. Bên cạnh đó dẫn đến, các mặt hàng nhạy cảm như tủ bếp, bộ phận tủ bếp và gỗ ván bị điều tra về vấn đề chống bán phá giá và gian lận thương mại tại Mỹ. Mặt khác, khâu nhập khẩu tăng đột biến luồng cung đồ gỗ, đặc biệt là đồ nội thất sử dụng trong phòng bếp, phòng tắm và bộ phận đồ gỗ nhập khẩu từ Trung Quốc có ảnh hưởng tiêu cực đến việc điều tra gian lận xuất xứ đối với các mặt hàng nói trên tại Mỹ. Ngoài ra, lệnh trừng phạt của phương tây đối với các sản phẩm sử dụng gỗ bạch dương Nga cũng gây thêm khó khăn cho các doanh nghiệp sử dụng nguồn gỗ này.
Trong năm 2023, tác động của sự suy giảm kinh tế tại các thị trường xuất khẩu trọng điểm của ngành gỗ Việt, cuộc chiến Nga – Ukraine, khủng hoảng năng lượng, đặc biệt tại EU, và một số yếu tố vĩ mô khác khiến cho cầu tiêu dùng đồ gỗ giảm mạnh. Kết quả là kim ngạch xuất khẩu G&SPG của Việt Nam đã giảm 15,9% so với 2022, chỉ đạt 13,18 tỷ USD. 3 ĐVT: Tỷ USD 18 16 15,67 14,13 14 13,18 12,01 12 10,33 10 8,48 7,66 8 6 4 2 0 2017 2018 2019 2020 2021 2022 2023 Hình 2.1 KN XK G&SPG hàng năm của Việt Nam 2017 – 2023 Nguồn: Tạp chí Gỗ Việt Trong năm 2023, kim ngạch NK G&SPG của Việt Nam đạt gần 2,19 tỷ USD, giảm 28,7% so với năm 2022. Các mặt hàng nhập khẩu có giá trị cao chủ yếu thuộc nhóm gỗ nguyên liệu (HS4403, 4407).
❖ Các thị trường nhập khẩu chính: - Trung Quốc: Kim ngạch NK từ thị trường này đạt 760,2 triệu USD, giảm 16,7% so với năm 2022. - Mỹ: 238,05 triệu USD giảm 31% so với năm 2022. - Ca-mơ-run: 176,59 triệu USD giảm 32,2% so với năm 2022. - Lào: 111,42 triệu USD giảm 19,7% so với năm 2022.
- Thái Lan: 105,39 triệu USD giảm 16,1% so với năm 2022. ❖ Các mặt hàng nhập khẩu chính: - Gỗ tròn: Lượng nhập đạt trên 1,62 triệu m3 giảm 35,9% so với năm 2022. Giá trị kim ngạch NK đạt 454,52 triệu USD giảm 39,2% so với năm 2022, chiếm 20,7% tổng kim ngạch nhập khẩu G&SGP từ tất cả các thị trường. - Gỗ xẻ: Lượng nhập đạt trên 1,93 triệu m3 giảm 27,7% so với năm 2022.
Kim ngạch nhập đạt 748,35 triệu USD giảm 37,4% so với năm 2022, chiếm 34,1% tổng kim ngạch nhập khẩu G&SGP từ tất cả các thị trường. 4 - Veneer, ván bóc: nhập trên 194,05 nghìn m3 đạt 229,58 triệu USD giảm 20% về lượng và 23,6% về giá trị so với năm 2022, chiếm 10,5% tổng kim ngạch nhập khẩu G&SGP từ tất cả các thị trường. - Gỗ dán: nhập trên 392,83 nghìn m3 đạt 159,38 triệu USD tăng 9,7% về lượng nhưng giảm 10% về giá trị so với năm 2022, chiếm 7,3% tổng kim ngạch nhập khẩu G&SPG. - Ván sợi: nhập trên 527,13 nghìn m3 đạt 146,98 triệu USD giảm 4,1% về lượng và 14,6% về giá trị so với năm 2022, chiếm 6,7% tổng kim ngạch nhập khẩu G&SPG.
ĐVT: Tỷ USD 3,5 3,08 2,91 3 2,55 2,55 2,35 2,5 2,18 2,19 2 1,5 1 0,5 0 2017 2018 2019 2020 2021 2022 2023 Hình 2.2 KN NK G&SPG hàng năm của Việt Nam 2017 – 2023 Nguồn: Tạp chí Gỗ Việt 2.2 Thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ Ngành chế biến xuất khẩu lâm sản Việt Nam trong năm 2022 chỉ tăng trưởng 6,1%. Trong suốt hơn một thập kỷ giữ vững tăng trưởng 2 con số, đây là năm tốc độ tăng trưởng của công nghiệp nội thất Việt Nam đã chậm lại. Các thị trường trọng điểm của ngành gỗ năm 2023 vẫn là Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và EU. Kim ngạch xuất khẩu năm 2023 giảm mạnh tại một số thị trường chính trên của cả ngành chủ yếu đạt được do kim ngạch của 2 mặt hàng dăm gỗ và viên nén.3 thể hiện thị phần xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam sang các thị trường chính trong năm 2023.
5 2,9% 3,5% 6% Mỹ Trung Quốc 12,6% Nhật Bản 53,9% Hàn Quốc 13,1% EU Các thị trường khác Hình 2.3 TP XK G&SPG chính của VN năm 2023 Nguồn: Tạp chí Gỗ Việt Trong năm 2023, tác động của sự suy giảm kinh tế tại các thị trường xuất khẩu trọng điểm của ngành gỗ Việt, cuộc chiến Nga – Ukraine, khủng hoảng năng lượng, đặc biệt tại EU, và một số yếu tố vĩ mô khác khiến cho cầu tiêu dùng đồ gỗ giảm mạnh. Kết quả là các mặt hàng xuất khẩu có giá trị kim ngạch xuất khẩu G&SPG của Việt Nam đã giảm mánh so với 2022, chỉ đạt 12,117 tỷ USD. 5,2% 1,7% 6,7% Ghế ngồi Đồ gỗ 40,2% Dăm gỗ 16,8% Gỗ dán, gỗ ghép Viên nén 21,5% Ván bóc Hình 2.4 TP KN XK G&SPG chính của VN năm 2023 Nguồn: Tạp chí Gỗ Việt 6 2.