Chương 1: Tổng quan 12 Đây là chương giới thiệu về đề tài, cho người đọc một cái nhìn tổng quát về nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu, đối tượng được hướng đến và những mục tiêu của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 2 là nơi để tổng hợp các kiến thức, lý thuyết cần thiết để triển khai đề tài. Giải thích các vấn đề, khái niệm có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Bên cạnh đó cơ sở lý thuyết được dùng để làm tăng độ tin cậy đề tài bằng các nghiên cứu, lý thuyết đã chứng minh.
Chương 3: Giới thiệu linh kiện Là chương giới thiệu các linh kiện được sử dụng trong đề tài. Đưa ra các thông tin chi tiết của linh kiện được sử dụng như điện áp hoạt động, chức năng, kích thước, … và nêu một số lưu ý khi sử dụng linh kiện. Chương 4: Thiết kế và xây dựng hệ thống Là chương quan trọng của luận văn. Hệ thống được mô tả chi tiết về các thành phần, tính năng.
Trình bày rõ các phương pháp, trình tự thiết kế của từng khối, cách hoạt động, sự tương tác, liên kết trao đổi thông tin giữa các khối để tạo ra một hệ thống hoàn chỉnh đáp ứng được các mục tiêu ban đầu đã đề ra. Chương 5: Kết quả thi công Kết quả đạt được sau thi công sẽ được thể hiện rõ nhất ở chương này. Trình bày chi tiết các kết quả đạt được qua thực nghiệm, so sánh với kết quả dự kiến. Xem xét tính tin cậy của kết quả.
Từ đó đưa ra được các đánh giá và tìm ra các điểm hạn chế còn tồn đọng của đề tài. Chương 6: Kết luận và hướng phát triển Chương này dùng để kết luận đề dựa vào kết quả thực nghiệm hậu thi công. Đồng thời từ các hạn chế đã phát hiện để đưa ra được những giải pháp và hướng phát triển phù hợp trong tương lai. 13 Chương 2 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.
Cấu tạo, chức năng của trái tim 2. Khái niệm Tim là một trong những cơ quan quan trọng nhất của cơ thể con người, có cấu trúc hình nón rỗng, tim nằm ở vị trí ngực trái, có nhiệm vụ cung cấp Oxy cùng chất dinh dưỡng thông qua việc bơm máu đi khắp cơ thể. Trung bình tim đập 100.000 lần/ngày ở một người khỏe mạnh và bơm 7200l máu đi nuôi cơ thể. Ngay khi tim ngừng đập, cơ thể sẽ rơi vào trạng thái chết lâm sàng.
𝑠ố 𝑛ℎị𝑝 𝑡𝑖𝑚 đậ𝑝 Công thức tính nhịp tim là: 𝑡ℎờ𝑖 𝑔𝑖𝑎𝑛 2. Cấu tạo Cấu tạo của tim được chia ra làm nhiều phần: - Buồng tim: tim có tổng cộng 4 buồng, mỗi buồng có một công dụng khác nhau nhằm phục vụ cho việc bơm máu đi khắp cơ thể gồm: tâm nhĩ trái phải và tâm thất trái phải. - Thành tim: giữ vai trò co bóp để đưa máu đi khắp cơ thể thông qua các đường mạch máu. - Ngoại tâm mạc.
- Van tim: gồm van động mạch phổi, van 3 lá, van động mạch chủ và cuối cùng là van 2 lá. Nếu chỉ mỗi trái tim thì không thể nào giúp cơ thể hoạt động, đi liền với tim đó chính là hệ tuần hoàn máu, bao gồm các động mạch, mao mạch và các tĩnh mạch. Chức năng Tim hoạt động giống một máy bơm bơm máu đi khắp cơ thể, mỗi ngày tim bơm đi 7200l máu để nuôi cơ thể. Máu ít Oxy sẽ được truyền vào và bơm vào phổi, sau khi được cung cấp đủ Oxy thì sẽ được tim truyền tiếp đi xuống các mô cơ và nội tạng để cơ thể hoạt động.
Các bệnh lý tim mạch thường gặp Bệnh tim mạch là các bệnh có nguy cơ tử vong cao nếu không được phát hiện sớm, là những bệnh đặc biệt nguy hiểm. Bệnh tim mạch thường xuất hiện ở những người thuộc lứa trên 50 tuổi. Nhưng hiện tại các bệnh này đang trẻ hóa do các đồ ăn nhanh 14 nhiều dầu mỡ và các tác động môi trường khác. Một số bệnh về tim mạch thường thấy như: nhồi máu cơ tim, suy tim, rối loạn nhịp tim… Bên cạnh các phương pháp phòng ngừa truyền thống như tập thể dục, ăn uống lành mạnh thì giờ đây, ở thời đại công nghệ hóa hiện đại hóa, chúng ta có thể áp dụng các thiết bị theo dõi để có thể nắm bắt kịp thời các bất thường của tim càng sớm càng tốt, thông qua đó có thể phát hiện sớm các bệnh lý và đưa ra hướng điều trị phù hợp.
Khái niệm và tầm quan trọng của SpO2 2. Khái niệm Saturation of Peripheral Oxygen hay quen thuộc hơn với từ SpO2 là mức độ bão hòa Oxy trong máu của cơ thể mỗi người. Đây là một chỉ số rất quan trọng, và để hiểu rõ hơn về nó thì trước tiên ta cần phải biết 2 khái niệm: Hemoglobin (Hb) và Oxy huyết cầu. Trong đó Oxy huyết cầu là các hồng cầu chứa Oxy được bơm đi khắp cơ thể thông qua hệ tuần hoàn máu.
Còn Hemoglobin là một loại proteins xuất hiện trong huyết tương, nó có khả năng hợp nhất với Oxy tạo thành Oxy huyết cầu. SpO2 chỉ ra số lượng Hemoglobin đã kết hợp với Oxy trong máu với đơn vị đo %. 𝐻𝑏 𝑐ó 𝑂𝑥𝑦 Công thức được sử dụng để tính SpO2 là: 𝐻𝑏 𝑘ℎô𝑛𝑔 𝑐ó 𝑂𝑥𝑦+𝐻𝑏 𝑐ó 𝑂𝑥𝑦 2. Các yếu tố ảnh hưởng đến SpO2 Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số SpO2 của cơ thể, trong đó có 3 yếu tố gồm tuổi tác, các hoạt động và sức khỏe.
Trong đó thì chúng ta sẽ xoáy sâu vào 2 yếu tố chính là tuổi tác và sức khỏe. Về tuổi tác thì con số SpO2 ở trẻ em và trẻ vị thành niên và các lứa trung niên giao động từ 97% cho đến 100%, vì cơ thể ở độ tuổi này cần nhiều Oxy để hoạt động bình thường và phát triển. Đối với người già thì tỉ lệ SpO2 trong máu sẽ giảm xuống ở mức 92% - 96%. Các vấn đề về sức khỏe cũng khiến cho lượng SpO2 thay đổi, như các bệnh lý về hô hấp hay tim mạch.
Vào năm 2020 thì một đại dịch đã xảy ra, đó chính là Covid-19, đây là một loại virus lây nhiễm qua không khí có tỉ lệ tử vong rất cao, loại virus này tấn công trực tiếp vào phổi của bệnh nhân. Khi mắc Covid-19 thì tỉ lệ SpO2 trong máu sẽ xuống ngưỡng rất thấp. Tuy nhiên nhờ vào sự phát triển của ngành y tế đã cho ra các loại vacxin ngăn ngừa, nên đại dịch đã được dập tắt. Qua đó cho thấy việc theo dõi chỉ số SpO2 của người thân cũng là rất cần thiết.
Nó có thể cho biết được nhiều thông tin hữu ích và có thể giúp cho việc chẩn đoán các bệnh từ sớm một phần dễ dàng hơn. Tổng quan về hệ thống GSM/GPRS 2. Hệ thống GSM 15 Hệ thống thông tin di động toàn cầu (GSM) là công nghệ được sử dụng cho các dịch vụ mạng thông tin di động. Tới thời điểm hiện tại, GSM đã có hơn 2 tỷ thuê bao với hơn 212 quốc gia trên toàn cầu.
GSM cho phép các thuê bao chuyển vùng linh hoạt (roaming) với nhau vì vậy các loại điện thoại sử dụng GSM có thể kết nối với nhau dù ở bất kì đâu trên thế giới. Với lượng thiết bị khổng lồ, GSM vẫn đang là chuẩn di động phổ biến nhất trên thế giới. Khả năng phủ sóng vượt địa hình cho phép người sử dụng thiết bị di động của họ bất kì đâu và bất kì khi nào. Về phía khách hàng, GSM có lợi thế rất lớn khi nó cung cấp cuộc gọi chất lượng cao cùng dịch vụ nhắn tin với giá thành thấp.
Thông qua các lợi thế này, lượng người dùng mạng GSM cũng tăng dần qua từng năm, nhờ vậy càng nhiều thiết bị triển khai mạng GSM càng khiến mạng lưới di động này phát triển nhanh chóng. Vào đầu những thập niên 80 của thế kỷ 20, ở Châu Âu đã phát hiện ra một loại mạng di động chỉ sử dụng trong khu vực nhỏ. Những năm sau đó, vào năm 1982, CEPT đã chuẩn hóa loại mạng di động này và tạo ra GSM với mục đích ban đầu là phủ sóng toàn Châu Âu. Điện thoại di động sử dụng công nghệ GSM đầu tiên được tạo ra bởi Radiolinja tại Phần Lan.
Vào cuối năm 1993, với sự phát triển nhanh chóng thì GSM đã đạt ngưỡng 1 triệu thuê bao với 70 nhà cung cấp khác nhau và phủ sóng trên 48 quốc gia.1 Cấu trúc mạng CSM [1] 16 Các phân hệ trong mạng GSM: - Phân hệ chuyển mạch NSS: Network switching SubSystem - Phân hệ vô tuyến RSS = BSS + MS: Radio SubSystem o BSS = TRAU + BSC + BTS ▪ TRAU: bộ chuyển đổi mã và phối hợp tốc độ. ▪ BSC: bộ điều khiển trạm gốc ▪ BTS: trạm thu phát gốc o MS (chính là những chiếc di động) = ME + SIM ▪ ME: phần cứng và phần mềm ▪ SIM: lưu trữ thông tin thuê bao. - Phân hệ vận hành và bảo dưỡng OMS [1] 2. Dịch vụ GPRS Dịch vụ GPRS, hay tiếng Việt là dịch vụ vô tuyến gói tổng hợp là một loại dữ liệu di động dạng gói dành cho các thiết bị sử dụng hệ thống GSM và các loại thiết bị di động IS-136.
Tốc độ dữ liệu của GPRS được trải từ khoảng 56 kbps tới 114 kbps. Có khá nhiều dịch vụ có thể dùng thông qua GPRS, chẳng hạn như WAP – giao thức ứng dụng không dây hay là SMS – short message service, MMS – dịch vụ nhắn tin đa phương tiện và các dịch vụ toàn cầu sử dụng email hoặc vào mạng WWW. Trong khi các dữ liệu gọi điện, nhắn tin thông qua cách chuyển mạch truyền thống tính theo số phút kết nối, Các gói tin được chuyển thông qua dịch vụ GPRS được tính bằng số MB đã truyền, bất kể người dùng có sử dụng hay không. GPRS sử dụng phương pháp gói nỗ lực tối đa, không giống với chuyển mạch, QoS (chất lượng dịch vụ) luôn được bảo đảm ở một mức độ nhất định xuyên suốt quá trình kết nối của người dùng.
Trong GSM, phương pháp đa truy cập được kết hợp với dịch vụ GPRS dựa trên FDD và TDMA. Trong một phiên kết nối, người dùng sẽ có một kênh tần số dùng để download hoặc upload. Kênh này sẽ được kết hợp với ghép kênh thống kê theo miền thời gian hay liên lạc theo chế độ gói tin. Nhờ vậy, vài người dùng có thể chia sẻ cùng 1 kênh tần số mà không bị ảnh hưởng lẫn nhau.
Các gói này có 1 độ lớn cố định, tùy theo khoảng thời gian của GSM. Dịch vụ download sử dụng chế độ FIFO, trong khi upload sử dụng mô hình tương tự như ALOHA reservation.