ĐẶT VẤN ĐỀ Trong nền kinh tế quốc dân, vận tải là một ngành kinh tế đặc biệt và quan trọng. Nó có mục đ ch vận chuyển hàng hoá từ nơi này đến nơi khác. Đất nƣớc ta trong những năm gần đây phát triển rất mạnh mẽ, nhu cầu vận chuyển hàng hoá và hành khách ngày một tăng. Trong khi đó mạng lƣới giao thông nhìn chung còn hạn chế.
Phần lớn chúng ta sử dụng những tuyến đƣờng cũ, mà những tuyến tuyến đƣờng này không thể đáp ững nhu cầu vận chuyển lớn nhƣ hiện nay. Tuyến đƣờng Trung Sơn – ng ợi đoạn Km0 Đến Km7 963. Đây là tuyến tuyến đƣờng làm mới có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế địa phƣơng. Khi tuyến đƣờng đƣợc đƣa vào sử dụng sẽ đem lại nhiều thuận lợi cho giao thông đi lại.
Tuyến đƣờng đƣợc hình thành sẽ có ý nghĩa rất lớn về mặt kinh tế xã hội và văn hoá. Kinh tế của v ng có điều kiện phát triển, đời sống vật chất, văn hoá của dân cƣ dọc tuyến đƣợc nâng lên. Ngoài ra tuyến đƣờng còn góp phần vào mạng lƣới đƣờng bộ chung của tỉnh và quốc gia. 1 PHẦN I THIẾT KẾ DỰ ÁN XÂY DỰNG TUYẾN ĐƢỜNG “Trung Sơn – Hùng Lợi oạn Km Đến Km ” 2 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ XÂY DỰNG DỰ ÁN 1.
ĐẶC ĐI M ĐIỀU KIỆN TỰ NHI N 1. T ng quan Dự án xây dựng tuyến đƣờng qua hai xã Trung Sơn – ng ợi. Đây là một dự án giao thông trọng điểm của huyện ên Sơn đồng thời cũng là một công trình nằm trong hệ thống Tỉnh lộ của Tỉnh Tuyên Quang đã đƣợc quy hoạch. Khi đƣợc xây dựng tuyến đƣờng sẽ là cầu nối giữa 2 trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa lớn của Tỉnh.
Dự án hoàn thành sẽ đáp ứng đƣợc nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa giữa xã Trung Sơn – ng ợi đồng thời tạo điều kiện cho kinh tế, du lịch của địa phƣơng phát triển. Để làm cơ sở kêu gọi các nhà đầu tƣ và tạo điều kiện thuận lợi cho công tác đầu tƣ thì việc tiến hành Quy hoạch xây dựng và lập dự án khả thi xây dựng tuyến đƣờng Trung Sơn – ng ợi là hết sức quan trọng và cần thiết.Đặc i h tư ng th văn -Điều kiện tự nhiên: + Vị tr địa lý và điều kiện địa hình: Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc, nằm ở giữa Tây Bắc và Đông Bắc của tổ Quốc Việt Nam, có toạ độ địa lý: 21030’ đến 22040’ vĩ độ Bắc và 104053’ đến 105040’ kinh độ Đông, ph a Bắc giáp tỉnh à iang, ph a Đông giáp tỉnh Bắc Kạn, Cao Bằng và Thái Nguyên, phía Tây giáp tỉnh Yên Bái, phía Nam giáp tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc. Khu vực tuyến đi qua nằm ở hạ lƣu sông ô nên c ng với sự hạ thấp độ cao của lƣu vực sông ô, độ cao lƣu vực sông Phó Đáy cũng giảm thấp đáng kể. Độ cao có xu thế giảm dần từ thƣợng lƣu về hạ lƣu theo hƣớng từ Bắc-Nam và Đông Bắc - Tây Nam.
Ở thƣợng nguồn, độ cao lƣu vực biến đổi từ (500 -:- 1300)m với các núi ũng uông có độ cao trên 800m, núi Tam Tao cao trên 1300m. V ng trung lƣu, độ cao lƣu vực dao động trong khoảng (300 -:- 500)m. V ng hạ lƣu độ cao lƣu vực biến đổi từ (150 -:- 300)m. Độ cao trung bình lƣu vực sông Phó Đáy là 216m.
ƣu vực hẹp chạy dài, sông suối phân bố theo dạng lá cây, độ dốc lƣu vực và lòng sông nhỏ. + Đặc điểm kh hậu Khu vực tuyến đi qua nằm trong vùng khí hậu Đông Bắc và Việt Bắc. Những đặc điềm chính của khí hậu đƣợc thể hiện nhƣ sau: Đây là v ng có m a đông lạnh nhất nƣớc ta, 3 nhiệt độ thấp nhất trong m a đông có thể xuống dƣới 00C. Mùa hè, nhiệt độ thƣờng thấp hơn so với v ng đồng bằng Bắc Bộ, nhƣng ở các thung lũng nhiệt độ cao nhất có thể đạt trên 400C.
ƣợng mƣa trong năm tƣơng đối lớn, phân bố mƣa không đều, hình thành m a mƣa và m a t mƣa rõ rệt. Một đặc điểm cơ bản là vùng này ít chịu ảnh hƣởng của bão nhƣng dông và lốc phát triển rất mạnh, nhất là vào mùa hè. Nhiệt độ trung bình năm tƣơng đối đồng đều trong toàn lƣu vực. Cũng giống nhƣ toàn miền đồng bằng Bắc Bộ, mùa lạnh tới sớm vào cuối tháng XI và kết thúc muộn vào đầu hoặc giữa tháng.
Đối với mùa lạnh đáng chú ý nhất là những đợt xâm nhập không khí cực đới, nhiệt độ không khí tối thấp có thể xuống dƣới 50C. Mùa nóng thƣờng bắt đầu từ tháng đến tháng X, tháng nóng nhất là tháng VIII, nhiệt độ trung bình 28. + Nhiệt độ trung bình năm 22.90 C + Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất 28.10 C (VIII) + Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất 15.50 C (I) + Nhiệt độ tối cao tuyệt đối 39.60 C + Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 2.40 C + Biên độ ngày trung bình 7. ƣợng mƣa khá lớn, lƣợng mƣa trung bình năm vào khoảng 1500-2000mm, mƣa phân bố không đều trong năm và trong m a cũng rất thất thƣờng.
M a mƣa thƣờng bắt đầu từ tháng V đến tháng , tổng lƣợng mƣa trong thời kỳ này chiếm trên dƣới 85% tổng lƣợng mƣa năm. Ba tháng có lƣợng mƣa lớn nhất (từ tháng V đến tháng ), thông thƣờng lƣợng mƣa của những tháng này vƣợt quá 200mm. Dạng mƣa phổ biến là mƣa giông, nhƣng quan trọng hơn cả là những trận mƣa có liên quan tới bão, cƣờng độ mƣa vƣợt quá 150mm/24 giờ và ch nh những khi mƣa có cƣờng độ quá lớn và kéo dài gây ra úng nghiêm trọng. M a khô bắt đầu từ tháng đến tháng V năm năm sau, đây là thời kỳ mƣa nhỏ và mƣa ph n.
Các số liệu mƣa đo đạc tại trạm kh tƣợng Tuyên Quang nhƣ sau: + ƣợng mƣa trung bình năm 1641mm + Số ngày mƣa trung bình năm 144 ngày + ƣợng mƣa trung bình tháng lớn nhất 305mm (VIII) + Số ngày mƣa trung bình tháng lớn nhất 18 ngày (VIII) 4 Chế độ nhiệt ẩm thể hiện khá rõ tính chất hai mùa của khí hậu của vùng Việt Bắc và Đông Bắc, với một mùa lạnh không ổn định, tƣơng đối ẩm và một mùa nóng rất ẩm, mƣa nhiều, giữa hai mùa là thời kỳ chuyển tiếp ngắn. + Độ ẩm tƣơng đối trung bình năm 84% + Độ ẩm tƣơng đối thấp nhất trung bình năm 64% ƣớng gió thịnh hành trong m a Đông là các hƣớng Tây Bắc, Bắc, Đông Bắc chiếm tần suất 80-90%. Về mùa Hạ, hƣớng thịnh hành là hƣớng Tây và Tây Nam chiếm 50% số lần quan trắc. Tốc độ gió trung bình vào khoảng 2.5 m/s, tốc độ gió mạnh nhất xảy ra trong bão có thể đạt 28m/s.
Khu vực tuyến đi qua nằm trong lƣu vực sông Lô. Sông Lô là phụ lƣu cấp I của sông Hồng, bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), chảy vào Việt Nam qua các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Cao Bằng, Tuyên Quang , Vĩnh Phúc, cuối cùng nhập vào dòng chính sông Hồng tại Việt Trì. Đặc trƣng hình thái của lƣu vực sông ô nhƣ sau: Diện t ch toàn lƣu vực 390000km2, trong đó diện t ch trong nƣớc chiếm 22600km2 + Chiều dài dòng chính 470km + Độ cao bình quân lƣu vực 884m + Độ dốc bình quân lƣu vực 19.7% + Mật độ lƣới sông 0. ƣu vực sông Phó Đáy nằm trong miền Đông Bắc, là miền có diện tích không lớn nhƣng chế độ thuỷ văn hết sức phức tạp.
Nguyên nhân trƣớc hết là tính chất phong phú của các nhân tố gây mƣa. Sự diễn biến phức tạp của các nhân tố đó theo thời gian, không gian và cuối cùng là sự tồn tại của những sông suối lớn nhỏ khác nhau, nghĩa là khả năng điều tiết khác nhau liên quan đến điều kiện địa phƣơng. Nhìn chung các sông suối ở miền Đông Bắc nƣớc ta có lƣợng nƣớc phong phú, mô đuyn dòng chảy trung bình năm từ 20-30l/s. Đối với Đông Bắc cũng nhƣ toàn miền Bắc vấn đề không phải là thiếu nƣớc mà chính là sự phân phối lƣợng nƣớc trong năm.
Ph hợp với chế độ khí hậu, chế độ thuỷ văn trong lƣu vực chia làm hai mùa rõ rệt: m a lũ và m a cạn. M a lũ bắt đầu từ tháng V kéo dài đến tháng X chiếm từ 70-80% lƣợng dòng chảy cả năm. Ba tháng có lƣợng dòng chảy lớn nhất là tháng V , V , V. ũ lớn nhất xảy ra vào các tháng VII, VIII ở phía bắc của miền, trên các sông suối nhỏ lũ lớn tập trung 5 vào các thángV , liên quan đến các thời tiết mƣa dông do đối lƣu nhiệt, hội tụ kinh tuyến, frôn lạnh.
Mùa kiệt từ tháng đến tháng V năm sau, lƣợng dòng chảy nhỏ và ổn định và dòng chảy thƣờng đƣợc bổ sung bởi nƣớc ngầm. Với đặc điểm hình thái lƣu vực dốc, thung lũng hẹp, lƣới sông hình lông chim và hình thái gây mƣa phong phú đã làm cho chế độ dòng chảy lũ của sông Phó Đáy diễn ra hết sức ác liệt. ũ có dạng đỉnh nhọn, tập trung nhanh, rút nhanh, thời gian tồn tại của một con lũ là 1-2 ngày. Trận lũ vừa mới xảy ra vào ngày 3-4/7/2001 là trận lũ lớn trên sông Phó Đáy đã cuốn trôi nhiều nhà cửa và các công trình trên sông.
Theo tài liệu điều tra cũng nhƣ tài liệu quan trắc của các trạm thuỷ văn cho thấy trên hệ thống sông Phó Đáy khoảng 100 năm trở lại đây đã xảy ra các trận lũ lịch sử vào các năm 1971, 1978, 1980 và 2001 trong đó trận lũ năm 2001 là trận lũ lớn nhất. Đặc i a ch t Tuyến khảo sát chạy trên hai kiểu địa hình ch nh: đồng bằng cao xâm thực - tích tụ giữa núi, địa hình khối tảng bóc mòn đồi núi thấp. Khu vực khảo sát chủ yếu hai tầng chứa nƣớc chính + Nƣớc dƣới đất trong tầng tích bở rời: + Nƣớc dƣới đất trong đá vôi nứt nẻ và cacsto hóa Ngoài ra tầng nƣớc dƣới đất còn nằm trong tầng đá trầm tích lục nguyên nứt nẻ, nhƣng lƣu lƣợng nhỏ và ít ảnh hƣởng đến các công trình giao thông.