CHƯƠNG I: TỔNG QUAN I. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NGÀNH GIẤY Đầu thế kỷ 15, với việc phát minh ra máy in chữ, giấy trở nên có vị trí hơn và ngày càng khẳng định giá trị của nó. Năm 1719, Rene Antoine Ferchault de Reaumur (Pháp) đã nghiên cứu thấy rằng gỗ có cấu tạo dạng sợi mà trong đó thành phần xenlulo là chủ yếu, thích hợp cho việc làm giấy. Sau này gỗ đã trở thành nguyên liệ u không thể thiếu của ngành công nghiệp giấy.
Năm 1798, máy làm giấy đầu tiên ra đời ( Nicholas-Louis Robert - Pháp phát minh). Tuy nhiên, nó không được đưa vào hoạt động sản xuất do Robert không tìm được người tài trợ, dần nó đi vào quên lãng. Không ai biết đến máy giấy này, nhưng nhờ nó mà sau này anh em nhà Fourdriner đã làm nên lịch sử của ngàn h giấy. Năm 1807, anh em nhà Fourdriner nhận bằng sáng chế về máy xeo giấy liên tục (máy xeo dài) cải tiến từ máy xeo của Nicholas-Louis Robert.
Máy này đi vào lịch sử với tên gọi “Fourdriner”. Nhờ phát minh này mà việc sản xuất giấy trở nên thuận lợi hơn. Vào 1809, Jonh Dickinson (Anh) nhận bằng sáng chế về phát minh ra máy xeo tròn. Công nghệ cũng tương tự như máy xeo Fourdriner chỉ khác chi tiết là ở bàn lưới của máy xeo dài thay thành lô lưới trong máy xeo tròn.
Máy xeo tròn ra đời làm phong phú thêm cho ngành, tạo điều kiện chọn lựa thiết bị khi xây dựng nhà máy giấy. Năm 1850, Friedrich Gottlob Keller (Đức) và Charles Fenerty (Anh) nghĩ ra cách mài gỗ thành dạng bột (xử lý gỗ bằng phương pháp cơ học). Cùng thời đó, người Hà Lan đã phát minh ra máy nghiền gỗ (dùng dao cho quá trình xé tơi). Với thành quả này thì quá trình tạo bột giấy dễ dàng hơn rất nhiều.
Và năm 1851, nhà hóa học người Anh Hugh Burgess lần đầu tiên đã dùng chất hoá học để phân giải gỗ thành bột. Các phương pháp xử lý hoá chất ra đời như: phương pháp sunfít, phương pháp sunfat (phương pháp Kraft). Theo thống kê của tạp chí chuyên ngành Mỹ, năm 1907, phương pháp Kraft được ứng dụng rất phổ SV: Lâm Đỗ Anh Thư 11 Thiết kế nhà máy giấy carton Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: ThS. Hoàng Thị Yến biến.
Với phương pháp này, khối lượng giấy được làm ra khá lớn (mức sản xuất tăng gấp đôi và đến 2,5 tỉ tấn/năm) Ngày nay, bên cạnh việc dùng gỗ làm nguyên liệu chính thì ngành còn dùng cả các loại phi gỗ, tận dụng cả giấy thu hồi để làm giấy. Với việc tận thu giấy thu hồi làm giấy đã hạn chế được rừng bị cạn kiệt, thân thiện với môi trường. VÀI NÉT VỀ THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC VÀ NƯỚC NGOÀI Ngày nay, giấy được sử dụng với nhiều mục đích rất phong phú và đa dạng. Nhưng nhìn chung, thị trường sản phẩm giấy được phân thành 3 loại chính: Bảng I.1: Các loại giấy – Ví dụ.
Giấy in Giấy công nghiệp Giấy lụa Giấy báo Túi Giấy vệ sinh Catalog Giấy cho phương pháp in chìm Lớp ngoài bìa carton Giấy tụ điện Giấy quảng cáo Khăn lau Giấy bạc, tài liệu Giấy gói Kinh thánh Lớp sóng của carton nhiều lớp Hoá đơn, trái phiếu Giấy trang trí cho xây dựng Văn phòng phẩm Giấy không thấm dầu béo Giấy bóng 1. Tình hình thị trường thế giới Nhiều quốc gia làm mới quy trình sản xuất giấy bằng cách tự động hoá nhờ áp dụng hệ thống điều khiển bằng máy tính ở mỗi khâu, nhằm mục đích: o Tăng năng suất lao động. o Tăng tính ổn định của quá trình sản xuất giấy. SV: Lâm Đỗ Anh Thư 12 Thiết kế nhà máy giấy carton Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: ThS.
Hoàng Thị Yến o Tăng tính ổn định chất lượng bột và giấy. Năm 2008, theo bảng thống kê của Vnpaper thì cung được xác định có tốc độ tăng trưởng cao hơn cầu. Từ 2007 – 2012, với công suất đầu ra (khoảng 65 triệu tấn) của giấy cao nhất từ trước đến nay, việc tồn kho bột giấy là không tránh khỏi. Ở Châu Âu mức tồn kho tăng cao, bao gồm các nước: Hà Lan, Bỉ, Pháp, Anh Quốc, Đức, Thuỵ Sĩ, Italia và Tây Ban Nha.2: Tồn kho bột giấy Châu Âu (Đvt: Tấn) Quốc gia 04/2008 03/2008 04/2007 Hà lan/Bỉ 538.800 Tây Ban Nha 60.
Khuynh hướng mới của thế giới: - Đầu tư bột giấy sang các nước đang phát triển, chủ yếu là bột sớ ngắn. - Tái chế giấy vụn đã được ưu tiên chọn lựa và sẽ tiếp tục tăng do nhu cầu sử dụng tăng cao. Tỉ lệ tái chế giấy ở Châu Âu đạt mức 64,5% trong năm 2007. Điều này khẳng định ngành công nghiệp giấy đang trên con đường dẫn tới mục tiêu tái chế 66% giấy vào năm 2010.
- Nghiên cứu chế tạo thiết bị và vật liệu mới với tuổi thọ cao hơn, khả năng vận hành, bảo dưỡng thuận lợi hơn. Tốc độ thiết bị là vấn đề được quan tâm. Tốc độ sản xuất một số mặt hàng giấy: o Giấy bao bì đã trên 800 m/phút. o Giấy in báo là 2200 m/phút giấy in có tráng phủ là 1800 m/phút.
SV: Lâm Đỗ Anh Thư 13 Thiết kế nhà máy giấy carton Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: ThS. Hoàng Thị Yến o Giấy tissue (lụa) là 2200 m/phút. - Hiện đại hóa thiết bị, tự động hóa toàn bộ dây chuyền sản xuất. - Giảm tiêu hao năng lượng trong đó, giảm tiêu hao hơi tại phần sấy giấy và hệ thống nước trắng là chọn lựa ưu tiên của các chương trình tối ưu hóa.
- Sử dụng phụ gia để thay thế một phần nguyên liệu, đồng thời làm gia tăng tính chất của giấy. Công nghiệp giấy Châu Á: - Trung Quốc: thu hút đầu tư với tốc độ phát triển cao nhất (từ khoảng 10 triệu tấn/năm vào những năm đầu thập niên 1990 nay đã là 36 triệu tấn/năm, đứng thứ hai thế giới). Nhiều ứng dụng kỹ thụât mới đang triển khai. - Thái Lan: biết tận dụng nguồn thiên nhiên vốn được ưu đãi (diện tích gấp 1,5 lần Việt Nam và khỏang 80% là vùng đồng bằng) cùng lực lựơng làm nông hùng hậu 70%.
Hiện nay các thiết bị nhà máy giấy ThaiUnion Paper đã được hiện đại hoá. Tuy nhà máy có quy mô không lớn nhưng mẫu mã và chất lượng sản phẩm cao. - Nhật Bản: luôn nâng cấp đều đặn thiết bị trong dây chuyền sản xuất giấy. Các máy xeo được lắp năm 1959, 1969, 1979 hiện tại bây giờ có tốc độ thực tế là 150 m/phút, 400 m/phút, 850 m/phút.
Năng suất 1250 tấn/ngày. Tình hình thị trường trong nước Giấy sản xuất trong nước gồm: 70% carton và 30% các ại lo giấy khác như: giấy in, báo, viết, vệ sinh, vàng mã. Hiện nay các công ty sản xuất giấy ở Việt Nam chia làm 2 nhóm: o Nhóm gồm 7 công ty nhà nước: • Phía Bắc gồm: Bãi Bằng, Việt Trì, Hòang Văn Thụ, Vạn Điểm • Phía Nam gồm: Tân Mai, Đồng Nai, Bình An. o Nhóm hàng trăm công ty giấy tư nhân.
Hầu hết các nhà máy làm giấy ở nước ta không tự cung phần bột giấy mà chủ yếu là nhập. Riêng Bãi Bằng và Tân Mai là 2 nhà máy vừa sản xuất bột vừa sản xuất giấy. Tương lai có thêm Kon Tum và Thanh Hóa. Ngành giấy Việt Nam trong năm 2008: SV: Lâm Đỗ Anh Thư 14 Thiết kế nhà máy giấy carton Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: ThS.
Hoàng Thị Yến o Trong nước thì thiếu bột để làm giấy, trông khi nước ta lại mang gỗ đi xuất khẩu. Một điều thật nghịch lý. o Có sự đầu cơ trong ngành, nguyên nhân do kinh tế thế giới biến động. o Nước ta gia nhập WTO, điều này sẽ khó khăn trong việc cạnh tranh với các quốc gia trên thế giới đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân, họ sẽ dễ phá sản và thua lỗ.
o Các yếu điểm lộ ra: Trình độ công nghệ yếu kém. Mua nguyên l iệu nhỏ lẻ, không theo kế hoạch. Các doanh nghiệp mạnh ai nấy làm. Chưa có sự hợp tác cũng như trao đổi kinh nghiệm trong nội bộ ngành.
Chưa có chiến lược huy động vốn. Nhiều nhà đầu tư nước ngoài đến rồi đi. Hướng giải quyết: Đối với Chính Phủ: • Chính Phủ cần phải đầu tư vốn để triển khai các dự án lớn, giải quyết vấn đề bất hợp lý khi xuất khẩu gỗ, xây dựng cơ sở hạ tầng và hạng mục xử lý môi trường đối với các khu công nghiệp giấy. • Coi cây công nghiệp giấy như cây cao su, cà phê.
Từ đó, Chính Phủ có những quyết định quy họach đất đủ màu mỡ với diện tích đủ lớn để thâm canh, tăng năng suất cây trồng, đáp ứng nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất bột giấy. • Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực từ công nhân kỹ thuật, Cao Đẳng, Đại Học và trên đại học trong nước, nước ngoài. Đối với doanh nghiệp: • Bắt tay, liên kết lại, hỗ trợ nhau thì mới có khả năng cạnh tranh với ngành giấy thế giới. • Cần đổi mới thiết bị, cải tiến công nghệ dây chuyền, công nghệ sản xuất để chúng hoàn thiện hơn.
• Đào tạo nguồn quản lý, nguồn nhân lực một cách bài bản và chuyên nghiệp. SV: Lâm Đỗ Anh Thư 15 Thiết kế nhà máy giấy carton Luận Văn Tốt Nghiệp GVHD: ThS. Hoàng Thị Yến • Tham gia vào thị trường chứng khoán để huy động được nguồn vốn lớn xây dựng các nhà máy quy mô lớn, có sức cạnh tranh cao. • Thực hiện công tác trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng và các biện pháp phòng chống cháy rừng tại các lâm trường và công ty nguyên liệu giấy.
LÝ DO THIẾT KẾ 1. Cơ sở thiết kế Dựa vào Doanh Nghiệp Tư Doanh Thuận An. Hình thức sỡ hữu vốn: 100% vốn của doanh nghiệp. Địa chỉ xí nghiệp: Ấp 3, xã Tân Định, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
Ngành nghề: Sản xuất giấy và bao bì. Thiết bị gồm 4 máy xeo cho năng suất 150 tấn/ngày. Địa phương và địa điểm xây dựng [14] Xây dựng tại Bến Cát, Bình Dương: - Tọa lạc trên địa bàn có diện tích 495,3 hecta trong đó đất xây dựng xí nghiệp 318,5 ha, đất xây dựng kho tàng 13 ha, trung tâm dịch vụ 9,6 ha; đường giao thông 58,7 ha; công trình côngộng c 9,5 ha; cây xanh 86 ha; khu dân cư 39,7 ha. - Thuộc vùng Đông Nam Bộ - 1 vị trí kinh tế chiến lược khá đặc biệt.
Vùng mang tính chất chuyển tiếp giữa cao nguyên Nam Trung Bộ - Tây Nguyên – đồng bằng Sông Cửu Long (Nằm kề ngang TPHCM và Biên Hòa). Đến năm 2010 có khỏang 50 khu công - Vùng có 25 khu công nghi nghiệp và gần 30 đô thị gắn kết với các khu công nghiệp này. - Có sẵn đất ở Bình Dương với diện tích 60.