chương 1, mục 2). Điều đó cũng tùy thuộc vào nhu cầu phát triển trong từng giai đoạn cụ thể trong tiến trình phát triển lịch sử của quốc gia. Đặc biệt, Thiền được người Nhật nhiệt tình tiếp thu, có chọn lọc và dần gắn liền với đạo đức tâm lý dân tộc. Và nghệ thuật cắm hoa Ikebana (生け花) cũng được nhắc đến như một loại hình nghệ thuật gợi xúc cảm tâm linh, là triết lý giác ngộ tinh thần thông qua sự tập trung luyện thiền của Phật giáo.
Mặt khác, ta cũng dễ dàng nhìn thấy sự ảnh hưởng đặc biệt của Thiền đối với tầng lớp quý tộc thời Kamakura (鎌倉 1185 - 1333) và Muromachi (室町 21 1336 - 1573). Các thiền tăng được xem là những người đã cổ xúy cho kiến thức văn hóa. Họ còn được xem là những học giả, nhà tư tưởng thần bí,… nên được các tầng lớp quý tộc tôn kính. Chính quyền đương thời cũng tham gia khuyến khích các nhà tu hành, thậm chí tham gia vào các hoạt động tôn giáo cũng như hành thiền.
Nhờ vậy, Thiền không những tạo nên sự ảnh hưởng rất nhiều về mặt tâm linh mà còn lan tỏa đến mọi lĩnh vực văn hóa của Nhật Bản. Quan hệ giữa Thiền và nghệ thuật Thiền không bao giờ xa rời thế giới của sự vật mà luôn sống ngay giữa những thực thể. Thiền không chỉ là giáo lý mang tính khái niệm mà nó thiết lập nên mối quan hệ giữa thiên nhiên và tình yêu của con người đối với thiên nhiên. Và nghệ thuật Nhật Bản có liên quan mật thiết đến Thiền, thống nhất chặt chẽ với tinh thần của Thiền.
Trong lịch sử, trên nền tảng của Thiền, những hình thái về nghệ thuật, về trà đạo, về hoa, thậm chí đến việc xây dựng các loại hoa viên cũng được hình thành. Điển hình, Thiền thể hiện sự liên kết lý tưởng sâu sắc với nghệ thuật uống trà. Trà ở Nhật Bản không đơn giản chỉ là thức uống khi người ta nghĩ rằng trà vị và thiền vị chỉ là một. Đặc biệt, Trà thất1 được dùng để thay thế cho thói quen uống trà trong thiền đường, càng làm cho trà đạo Nhật Bản mang màu sắc rất riêng.
Thiền sinh xem việc uống trà là cách mang lại sự an tĩnh tâm hồn, là lối thoát tạm thời giải tỏa khỏi mọi lo âu trong cuộc sống. Và trong Kiếm đạo, Thiền làm thế nào để có thể gắn bó được? Bởi khi nói đến kiếm, người ta nghĩ ngay đến sự chém giết, khử trừ cái ác vì con nhà võ dùng kiếm không ngoài mục đích đó. Tuy nhiên, lưỡi kiếm đóng vai trò bảo vệ công lý (sát nhân đao) và mặt khác cũng thể hiện cho lòng từ bi - lưỡi kiếm cứu người (hoạt nhân kiếm). Khi kiếm nằm trong tay của một kiếm sĩ đạt đạo cầm kiếm mà như không cầm kiếm thì thanh kiếm sẽ có một linh hồn, hòa huyện 1 Căn phòng được xây dựng dành riêng cho mục đích uống trà và thưởng trà.
22 cùng tâm hồn kiếm sĩ. Cũng có thể nói “thanh kiếm là linh hồn của người võ sĩ”. Lúc đó, thanh kiếm với con người là một, không còn phân biệt giữa chủ thể và khách thể. Trạng thái “cái tâm không có tâm” (mushin no shin 無心の心) sẽ đồng thời xuất hiện.
Kiếm sĩ sẽ hành xử trong trạng thái “vô tâm” (mushin 無 心) hay “vô niệm” (munen 無念); Điều này cho thấy “Thiền thƣờng có vẻ đứng về phía hành động không qua suy ngẫm” (Alan W. Hành động vung kiếm lên không đơn thuần chỉ là hành động đáp trả kẻ thù mà là làm một hành động có liên quan đến sự vận hành của Đạo và sự hòa hợp hai yếu tố âm dương trong vũ trụ. Từ đây, ta có thể thấy rằng kiếm sĩ cũng cần phải hiểu về cái “tinh hồn” (spirituality) của kiếm thuật. Vì thế, tu luyện theo phương pháp nhà Phật cũng là một lựa chọn.
Đối với hội họa, kịch nghệ, võ thuật, thi ca, bắn cung,. thì Thiền cũng là nguồn động lực chính thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển theo khuynh hướng mới. Những hình thái trên, thực chất nó đều được nuôi dưỡng bởi nhiều tập tục, nhiều quan niệm và nó hình thành dưới ảnh hưởng của các hình thái sản xuất nguyên thủy, thậm chí là các tín ngưỡng dân gian. Về sau, được hoàn thiện dần dưới tác động chủ đạo của ý thức hệ và của tâm lý dân tộc, vốn tôn thờ các giáo lý Phật giáo (V.
Ladanov, 2004, chương 3, mục 5). Theo quan điểm tâm lý, phong cách nghệ thuật Nhật Bản được các họa sĩ thể hiện với càng ít đường nét và nét chạm càng tốt trên lụa và giấy, sách. Người họa sĩ Nhật Bản được ví như là linh hồn của đất nước. Họ dùng các tác phẩm của mình để truyền bá những truyền thống văn hóa của dân tộc mình.
Trong các sáng tác của họ luôn mang màu sắc của Thiền, mang đậm màu sắc dân tộc. Và sở dĩ người họa sĩ vẽ được một tác phẩm đẹp và sống động là vì họ cảm nhận được cuộc sống xung quanh, họ biết hòa mình vào vạn vật. Người họa sĩ sẽ cảm nhận không gian, cây cỏ, chim chóc,. rồi “nhập thân” vào nó, để rồi từ đó khắc họa nội tâm của chính mình vào trong tác phẩm.
Nhờ hòa mình được 23 với thiên nhiên, nhờ tâm hồn gắn kết với Thiền mà người họa sĩ có được những bút pháp vô cùng súc tích. Bên cạnh đó, tính chất “không đối xứng” (hitaisho 非対称) hay còn là tính “bất cân xứng”, sự nhẹ nhàng và sạch sẽ cũng là một đặc điểm nổi bật của nghệ thuật Nhật Bản. Một chiếc thuyền nhỏ lơ lửng trên mặt nước, có cấu trúc thô sơ cũng đủ để đánh thức cảm giác bình yên, thỏa mãn và cảm giác “cô đơn” đậm chất Thiền. Hoặc đứng trước một bức tranh, chúng ta không thể đứng ngoài để nhìn vào tranh như một đối vật mà người xem phải “nhập vào bên trong” hình vẽ mới có thể thưởng thức được nó.
Khi ngắm tranh là như thể đang đứng giữa mọi nơi, giữa mọi sự vật và cùng hòa nhịp với tâm điệu của chúng. Những bức tranh thủy mặc của Nhật Bản được ghi lại chớp nhoáng với những nét chính yếu, vài đường nét bút phết mà đã tạo nên thiên nhiên có tính chất vô cùng sống động. Tranh vẽ hoàn toàn đơn sơ nhưng đầy vị thiền, đến độ người xem nghĩ rằng mình đã hòa vào cùng tranh vẽ vậy. Các thiên tài nghệ thuật Nhật Bản đã được truyền cảm hứng từ phương pháp thiền, xem mỗi sự vật là hoàn hảo trong bản thân nó.
Trong quyển Thiền và văn hóa Nhật Bản, D. Suzuki có nêu lên quan điểm của mình về một Thiền gia. Ông ví Thiền gia như là một nghệ sĩ và “Không khác gì nhà điêu khắc dùng con dao đẽo tạc nên một hình ảnh (khuôn mặt) ẩn tàng trong vật liệu vô tri giác”. Còn về cuộc đời thì “Thiền gia đã biến cuộc đời của mình thành một tác phẩm đƣợc sáng tạo - và nhƣ cách nói của ngƣời Ki-tô giáo - theo hình ảnh đã có trong đầu của Thƣợng đế” (D.
Thiền kích thích sự thôi thúc nghệ thuật và tô màu lên tác phẩm của người Nhật bằng những ý tưởng đặc trưng của nó. Thiền chấm phá những nét chính yếu trong nghệ thuật, không cần chi tiết. Thiền còn tạo ra nghệ thuật với một phẩm chất riêng. Trên mỗi loại hình như kịch nghệ, điêu khắc, văn học, cắm hoa,… đều có dấu ấn của tính thiền định, biến mọi thứ thành thiền định.
Có thể nói rằng các môn nghệ thuật của Nhật Bản đều có khởi nguồn gốc rễ chung là Đạo Phật. Các loại hình 24 hoạt động nghệ thuật này thực ra chỉ là “hình phóng chiếu” của một thái độ tinh thần mà các môn nghệ thuật này nuôi dưỡng và vun bồi theo cách riêng của nó. Nghệ thuật bắn cung - Cung đạo (Kyudo 弓道) và nghệ thuật đấu gươm - Kiếm đạo (Kendo 剣道) của Nhật Bản được người dân cảm nhận với một ý nghĩa triết lý sâu sắc. Nhờ vào sự ảnh hưởng của Thiền mà tài năng của một vị kiếm sư trở nên “có tinh thần”.
Và nhờ sự phấn đấu nội tâm mà bản thân ngày càng trở nên được chuyển hóa, được giải thoát. Nghĩa đen của chữ “Đạo” (Do 道) của cả Cung đạo và Kiếm đạo được xem như là môn nghệ thuật góp phần đưa con người đến với vạn vật. Cả hai loại hình nghệ thuật này đều được người Nhật Bản nuôi dưỡng, đồng thời nâng lên thành nghệ thuật, thành Đạo. Song, dù là Cung đạo hay Kiếm đạo thì đều có những chuẩn tắc thẩm mỹ riêng.
Chúng chi phối gần như trọn vẹn triết lý sống của người Nhật. Khi còn nhỏ thì họ đã cảm nhận được thị hiếu thẩm mỹ trong toàn bộ nếp sống của mình. Do được vun đắp nên từ một mỹ cảm dần dần đã biến thành một thứ tín ngưỡng lấy cái đẹp làm thần tượng thượng tôn và mọi người dân đều sùng mộ về cái đẹp như nhau (V. Ladanov, 2004, chương 1, mục 3).
Bộ môn nghệ thuật cắm hoa Ikebana cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc Thiền đạo. Ikebana (生け花) không chỉ phô bày vẻ đẹp của hoa mà còn giúp con người trở nên kiên nhẫn, bình tĩnh, khoan dung hơn, hài hòa hơn với cuộc sống. Người đắm mình trong sự sáng tạo của Ikebana (生け花) cũng là đắm mình trong những tinh hoa của Phật giáo. Nghệ thuật Ikebana (生け花) là sự cộng hưởng giữa các đặc trưng của giáo lý Phật giáo và vẻ đẹp của thế giới tự nhiên.
Nó mang lại sự trầm tư, ngơi nghỉ, để hồn lắng đọng trong vẻ đẹp của thiên nhiên và nghệ thuật. Theo nhận định của T. Tanikawa thì từ việc tôi rèn cho phụ nữ về trà đạo, cắm hoa, làm thơ cho đến việc dạy võ thuật cho nam giới đều được xem là liên quan đến cốt cách “phong lưu” của người Nhật (V. Ladanov, 2004, chương 1, mục 3).
Họ phong lưu trong cuộc sống hàng ngày và nhất là trong lĩnh vực nghệ thuật nói chung. Cơ sở thực tiễn 1. Nghệ thuật cắm hoa Nhật Bản 1. Sự hình thành và phát triển của nghệ thuật cắm hoa Nhật Bản Nghệ thuật cắm hoa Nhật Bản - Ikebana (生け花) là kỹ thuật đặt các cành cây vào bình theo một định dạng nhất định để thể hiện vẻ đẹp của không gian cần trang trí, chẳng hạn như dùng trang trí các hốc tường, các kệ khác nhau của phòng Tatami2.
Nghệ thuật cắm hoa Nhật Bản đã được phát hiện sớm nhất vào khoảng thế kỉ thứ VI, ban đầu là hình thức dâng hoa cho Phật (gọi là Kuge). Nó được gọi là Kado (華道) hay Hoa đạo. Được ghép từ hai kí tự, một có nghĩa là “hoa”, hai có nghĩa là “con đường” hoặc là “lối đi”.