Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài. Sử dụng thí nghiệm để tổ chức hoạt động học tập trong dạy học Sinh học 11 – THPT. Thực nghiệm sư phạm.
5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu ở nước ngoài 1. Những nghiên cứu về thí nghiệm Trong giáo dục, vấn đề sử dụng thực hành thí nghiệm đã được nghiên cứu từ rất lâu và được xem là một vấn đề quan trọng, cơ bản nhất trong quá trình dạy học. Nhà giáo dục kiệt xuất J.
Vì vậy, dạy học bắt đầu không thể từ sự vật giải thích về các sự vật mà phải từ sự quan sát trực tiếp chúng. Nếu chúng ta muốn dạy cho HS biết các sự vật một cách vững chắc, đúng đắn thì càng phải dạy quan sát và qua chứng minh bằng cảm tính… Ông Galilei (1564 – 1642) là một nhà vật lý học người Italia cho rằng “ Muốn hiểu biết thiên nhiên phải trực tiếp quan sát thiên nhiên, phải làm thí nghiệm, phải hỏi thiên nhiên chứ không phải hỏi Aristotles hoặc kinh thánh…” Về sau các nhà khoa học khác đã kế thừa và phát triển phương pháp này hoàn chỉnh hơn. Hiện nay phương pháp TN thực hành được thâm nhập vào nhiều ngành khoa học tự nhiên cũng như khoa học xã hội. Trong cuốn “ Giáo dục học” của N.
Savin ông đã nhấn mạnh mục đích của công tác thí nghiệm thực hành là để đảm bảo việc củng cố và cụ thể hóa các tri thức lý luận mà HS đã thu nhận được, thực hiện đầy đủ hơn mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn. Thông qua việc quan sát HS thực hành mà ông nhận thấy trong quá trình thực hiện những công việc mang tính chất tổng hợp dễ nảy sinh ở HS những nhu cầu áp dụng độc lập những tri thức. Nó có thể là những tri thức mà HS đã tiếp nhận đưa vào sử dụng trong tình huống quen thuộc hoặc là những sáng tạo mới, từ đó khả năng sáng tạo phát triển. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, N.
Savin đã khẳng định rõ mục đích, ý nghĩa của hoạt động thí nghiệm thực hành trong dạy học. Tư tưởng nhấn mạnh vai trò tích cực, chủ động của người học. Xem người học là chủ thể của quá trình nhận thức đã có từ lâu. Đặc biết, trào lưu giáo dục hướng vào người học xuất hiện đầu tiên ở Mỹ, sau đó lan sang Tây Âu và châu Á mà chủ yếu là ở Nhật Bản, thể hiện ở thuật ngữ “ Dạy học theo hướng vào người học”, “ Dạy học lấy học sinh làm trung tâm”…Khái niệm dự án đã đi từ lĩnh vực kinh tế, xã hội vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo không chỉ với ý nghĩa là các dự án phát triển giáo dục mà còn được sử dụng như một phương pháp hay hình thức dạy học.
Các nhà sư phạm Mỹ từ đầu thế kỷ 20 đã xây dựng lý luận cho phương pháp dự án ( Project method) và coi đó là phương pháp dạy học quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học định hướng vào học sinh, nhằm khắc phục nhược điểm của dạy học truyền thống coi thầy giáo là trung tâm. Theo phương pháp này, người học thực hiện nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn, thực hành. Người học cần tham gia tích cực và tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học. Giáo viên chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn giúp đỡ [11].
Các tác giả nêu trên sử dụng TN dùng trong dạy học ở các môn tự nhiên, nhưng sử dụng TN để tổ chức hoạt động học tập trong dạy học Sinh học 11 chưa có công trình nào nghiên cứu. Những nghiên cứu về năng lực Ở thế kỉ XVII, A.Komenxki đã viết: “ Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán đúng đắn, phát triển nhân cách… hãy tìm ra phương pháp cho phép giáo viên dạy ít hơn, học sinh học nhiều hơn”. Tư tưởng này bắt đầu rõ rệt từ thế kỷ XVII – XIX và đã trở nên rất đa dạng trong thế kỷ XX. Vào những năm 70 của thế kỷ XX, tại Liên Xô ( cũ) vấn đề rèn luyện năng lực cho học sinh trong trường học được quan tâm đặc biệt.
Người đi sau nghiên cứu vấn đề này là I.Lerner, nhà giáo dục học người Nga, ông đã đưa ra một công trình nghiên cứu về vấn đề này mang tên “ Bài tập nhận 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tiếp đó, nhiều nhà nghiên cứu, nhà giáo dục đã làm sáng tỏ khái niệm về năng lực như John Erpenbeck ( 1996), Xavier Roegier ( 2002) [36]. Tác giả Weitnert ( 2001) năng lực là những kỹ năng và kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội. và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt [13].
Từ những khái niệm năng lực cho thấy khả năng thực hiện, phải biết vận dụng, biết làm chứ không chỉ hiểu và biết. Giáo dục dựa vào năng lực nổi lên từ những năm 1970 ở Mỹ, giáo dục hướng tới đo lường chính xác kiến thức, kĩ năng và thái độ của người học [30]. Nhiều quốc gia thiết kế chương trình giáo dục dựa vào năng lực trong đó chú trọng xây dựng chương trình, mục tiêu, phương pháp thực hiện cũng như đánh giá người học như Đức, Anh, Mỹ, Australia[14].OECD ( tổ chức các nước kinh tế phát triển) ( 2002) đã xác đinh “ Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức tạp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong bối cảnh cụ thể”. Việc đánh giá năng lực người học cũng được làm sáng tỏ hơn trong “ nghiên cứu đánh giá trong giáo dục” ( 2006) của nhóm tác giả Liesbeth K.
Kirschner và Cees P. van der Vleuten [29]. Nghiên cứu ở trong nước 1. Những nghiên cứu về sử dụng thí nghiệm trong dạy học Ở Việt Nam, đã có rất nhiều nhà lý luận dạy học nghiên cứu về sử dụng thí nghiệm, nhằm cải tiến phương pháp dạy học theo hướng tích hoạt động học tập nhận thức như: Đinh Quang Báo, Dương Tiến Sỹ, Nguyễn Văn Duệ, Trần Bá Hoành, Nguyễn Cương, Võ Chấp, Tô Xuân Giáp, Trịnh Nguyên Giao…Việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học ở trường THPT đã được nghiên cứu rộng rãi và vận dụng có hiệu quả như: Trần Sinh Thành, Đặng Quang Khoa( 2003) với đề tài “ Hình thành kĩ năng phán đoán cho sinh viên sư phạm kĩ thuật, thông qua dạy học thực hành” [19].
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Năm 2011, Nguyễn Vinh Hiển từ sự phân tích vai trò của hoạt động quan sát, TN trong quá trình dạy học nói chung và dạy học Sinh học nói riêng đã đề xuất biện pháp, quy trình sử dụng TN trong dạy học kiến thức Sinh học tế bào – Sinh học 10 THPT [18]. Cao Cự Giác ( 2004) – Trường Đại học Sư phạm Vinh có bài viết “ Phát triển khả năng tư duy và thực hành thí nghiệm qua các bài tập hóa học thực nghiệm ( Tạp chí giáo dục số 88 – 2004). Theo tác giả, việc sử dụng bài tập thực nghiệm không chỉ cung cấp kiến thức, củng cố kiến thức mà còn rèn luyện được các kĩ năng tư duy thực nghiệm và thao tác thực hành [19]. Năm 2005, Hoàng Thị Kim Huyền đã xây dựng cấu trúc bài thực hành phương pháp dạy học SH nhằm nâng cao chất lượng thực hành và bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên trường đại học sư phạm [22].
Nguyễn Thị Dung – Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội có bài “ Tích cực hóa hoạt động học tập trong giờ thực hành củng cố môn SH ở phổ thông” ( tạp chí Giáo dục số 6 – 2006). Tác giả cho rằng việc tích cực hoạt động học tập trong giờ thực hành củng cố cần được coi trọng, bằng cách tạo điều kiện cho học sinh tự lực tìm con đường chứng minh những kiến thức được học. Năm 2007, Dương Tiến Sỹ trên cơ sở phân tích những khó khăn trong quá trình dạy học SH , đặc điểm tâm lí nhận thức của HS lớp 6, những hạn chế của các TN nên đã đề xuất biện pháp sử dụng TN ảo để tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học SH 6 [26]. Như vậy, việc tìm hiểu về sử dụng thí nghiệm trong dạy học đã được nghiên cứu và chú ý từ rất sớm cả trong nước và trên thế giới.
Tuy nhiên, theo tôi việc sử dụng thí nghiệm để phát triển hoạt động nhận thức của HS còn hạn chế. Vì vậy việc nghiên cứu các biện pháp, quy trình sử dụng các thí nghiệm để tổ chức hoạt động học tập trong dạy học Sinh học cho học sinh THPT là rất cần thiết. Những nghiên cứu về năng lực Vào những năm đầu thế kỉ XXI, giáo dục Việt Nam đang triển khai 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đổi mới chương trình giáo dục. Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 xác định phát triển giáo dục phổ thông “ Đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục… Thực hiện chương trình hợp lí đảm bảo kiến thức phổ thông cơ bản, tạo điều kiện phát triển năng lực của mỗi học sinh, nâng cao năng lực tư duy, kỹ năng thực hành, tính thực tiễn…” Nghị quyết 29 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định: Phải chuyển đổi căn bản toàn bộ nền giáo dục từ chủ yếu nhằm trang bị kiến thức sang phát triển phẩm chất, năng lực người học… Tác giả Nguyễn Hồng Thuận (2012) đề cập đến khái niệm, các thành tố của năng lực.
Theo đó, năng lực được cấu thành từ những bộ phận cơ bản là: tri thức về lĩnh vực hoạt động hay quan hệ đó; Kĩ năng tiến hành hoạt động hay xúc tiến, ứng xử với quan hệ nào đó; những điều kiện tâm lí [8]. Đinh Quang Báo đã nghiên cứu phát triển năng lực tư duy trong một số vấn đề về mục tiêu và chuẩn trong chương trình phổ thông sau 2015 cho rằng “ Năng lực là khả năng vận dụng kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống”. Thí nghiệm Sinh học 1.