Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI NÙNG Ở YÊN BÌNH, HỮU LŨNG, LẠNG SƠN 1. Khái quát về địa bàn cư trú 1. Đặc điểm tự nhiên Lạng Sơn hay còn gọi là Xứ Lạng là tỉnh biên giới phía Bắc của Tổ Quốc gồm 11 huyện và 1 thị xã. Với vị trí địa lý 21027' - 22019' vĩ độ Bắc và 106006' - 107021' Kinh độ Đông, phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng, phía Đông giáp Trung Quốc và tỉnh Quảng Ninh, phía Nam giáp tỉnh Bắc Giang, phía Tây giáp tỉnh Bắc Cạn và tỉnh Thái Nguyên, có quốc lộ 1A chạy qua cách trung tâm thành phố Hà Nội 154km.
Xã Yên Bình có diện tích đất tự nhiên là 53,16km2, cách trung tâm huyện Hữu Lũng 16km về phía Tây Bắc. Phía Đông giáp xã Hoà Bình, phía Tây giáp xã Quyết Thắng, phía Nam Giáp xã Minh Tiến , phía Bắc giáp xã Hữu Liên. Xã nằm trên trục đường 244 từ trung tâm huyện đến xã Quyết Thắng đi lên tỉnh Thái Nguyên từ đây có thể sang huyện Bắc Sơn. Với vị trí địa lý này xã Yên Bình có thể giao lưu với các địa phương khác một cách dễ dàng.
Khí hậu: Lạng Sơn mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa rõ rệt, mùa đông lạnh và khô, mùa hè nóng ẩm quanh năm. Nhiệt độ trung bình 17 - 220C, lượng mưa trung bình từ 1200 - 1600mm/năm. Độ ẩm tương đối lớn 80 - 85%. Riêng xã Yên Bình thì đây là vùng có nhiệt độ cao nhất của tỉnh với nhiệt độ trung bình khoảng 270C, mùa đông có nhiệt độ thấp nhất là từ 11 - 120C, mùa hè nhiệt độ có thể lên đến 39 - 400C.
Tài nguyên khoáng sản: Với địa thế thuận lợi, thiên nhiên đã tạo cho Yên Bình nhiều phong cảnh đẹp, bao quanh là núi đá vôi với nhiều hang 8 động. Với trục đường 244 chạy qua trung tâm xã và hai bên là núi và sông tạo nên một bức tranh sơn thuỷ hữu tình. Trên núi có nhiều gỗ quý như: đinh, lim… 1. Đặc điểm xã hội Xã Yên Bình là xã vùng cao của tỉnh tập trung chủ yếu là các dân tộc thiểu số trong đó có ba dân tộc chính là Tày, Nùng, Kinh mà chiếm tỉ lệ cao nhất là dân tộc Nùng.
Các dân tộc sống xen kẽ với nhau thành bản làng với lối sống nông nghiệp thuần nông. Đối với những làng bản ven quốc lộ thì có đường dải nhựa hoặc đường đá, đường đất xe ô tô có thể qua lại thuận tiện vào mùa khô, còn vào mùa mưa thì phương tiện đi lại khá khó khăn. Đối với các đường liên thôn thì chủ yếu là đường đất, lối mòn cho người đi bộ. Phương tiện đi lại chủ yếu ở đây là đi bộ với chiếc đòn gánh cổ truyền bằng tre hoặc gỗ trên vai cùng với đôi dậu (bồ đan) đây là phương tiện vận chuyển phổ biến của dân tộc.
Xe cút kít và xe đạp thồ trong thời gian gần đây đã được sử dụng phổ biến. Ngày nay người Nùng đã và đang xây dựng những con đường huyết mạch giao thông liên lạc giữa các vùng miền. Đồng bào Nùng có truyền thống đoàn kết tương trợ giữa những người trong họ hàng, làng xóm. Gia đình thường là gia đình nhỏ 2 - 3 thế hệ, tồn tại theo chế độ phụ hệ việc lớn trong nhà thường là do người đàn ông quyết định.
Trong gia đình cũng có quy định riêng không được phạm phải như bố và anh chồng không được vào buồng con dâu, em dâu và ngược lại. Lịch sử cư trú Căn cứ vào tộc phả: Nùng Xuồng hay còn gọi là Nùng Tùng Xìn từ Tùng Thiện sang. Nùng Phàn Xình từ Châu Vạn Thừa sang. Nùng Inh từ Long Anh sang.
Nùng Cháo từ Long Châu sang. 9 Nùng Lòi từ Hạ Lôi sang. Nùng An theo " Cao Bằng tạp chí " gọi theo nơi ở của họ là Châu An Kết. Nùng Quy Rịn từ Châu Thuận sang.
Nùng Sẻng từ Dưỡng Lợi sang. Nùng Hảm Sính từ Châu La Hồi sang. Nùng Khen Lài từ Châu An Bình sang. Nùng Gửi từ Châu Trấn An sang.
Nùng Giang từ Tả Giang sang. Nùng Skít từ Châu Tứ Kết sang. Nùng Dín ở Mường Khương, Bắc Hà ( Lào Cai ) và Hoàng Su Phì, Đồng Văn ( Hà Giang ) từ Vân Nam sang. Sở dĩ tộc Nùng mang nhiều tên gọi mang tính chất nhóm dân tộc họ như vậy có thể do mấy nguyên nhân sau: Một là: Do lịch sử phát triển của tộc người Nùng còn ở trình độ bộ tộc, nên mang tính chất địa vực rõ rệt, bộ tộc nào chỉ biết địa phương của bộ tộc đó, cho nên các tên gọi khác nhau của bộ tộc ấy cũng thường mang những tên gọi của địa phương, của tù trưởng.
Hai là: Từ nhiều địa phương ở bên kia biên giới sang và vào những thời gian khác nhau, cư trú trong nhiều tỉnh khác nhau của nước ta, thậm chí do cách xa không gian lâu đời làm cho mối thông tin tộc người mang tính chất đồng đại suy giảm hoặc tách biệt hoàn toàn trong nội bộ nhóm. Ba là: Do sự không nhận thức sâu sắc, không chính xác về tộc người Nùng và mối quan hệ của các nhóm Nùng của các tộc người khác trước đây, đã gán ghép cho một số nhóm Nùng, một số sắc thái văn hóa nhóm khi có sự tiếp xúc trao đổi thông tin văn hóa giữa các nhóm hoặc giữa các tộc người như trường hợp các nhóm Nùng Cún Cụt, Nùng Hua Lài đã nêu trên, hoặc 10 trường hợp Nùng Khen Lài là dựa vào chỗ tay áo thường đắp thêm những miếng vải đồng màu hoặc khác màu để tô thêm vẻ đẹp. Sau khi thiên di vào Việt Nam, nhiều nhóm Nùng phân cư rải rác hình thành cục diện cư trú kế cận hoặc xen cài với nhau, sắc thái văn hóa chung nảy nở ngày càng nhiều, đẩy mạnh quá trình cấu kết tộc người. Người Nùng ở Yên Bình cũng trong tình trạng di cư tương tự.
Đặc điểm đời sống kinh tế Các nhóm người Nùng đều là cư dân trồng trọt, nguồn sống chủ yếu dựa vào kết quả của mùa màng, cùng với nền nông nghiệp lúa nước, nương rẫy ở nhiều vùng vẫn chiếm vị trí đáng kể, đồng thời việc làm vườn cây đặc sản, chăn nuôi tiểu thủ công nghiệp, hái lượm, săn bắt, đánh cá. đều là những ngành kinh tế phụ trợ cho kinh tế ruộng nước. Đó là đặc điểm chung nhất trong sản xuất của người Nùng và những cư dân trồng trọt lâu đời người Nùng đã khai thác những thung lũng, đồi núi và vùng cư trú của mình thành những cánh đồng, những triền ruộng bậc thang màu mỡ. Trồng trọt: Người Nùng gọi ruộng là Nà, họ làm ruộng trên những mảnh đất bằng phẳng, có bờ giữ nước, giữ ẩm nên có thể cấy lúa.
Có nhiều loại như: Nà Nặm (ruộng có nước) có thể làm hai vụ hoặc một vụ lúa một vụ màu, Nà Lọng (ruộng cạn nhờ mưa) thường là ruộng bậc cao, khô nước một năm cấy được một vụ, Nà Pòng ( ruộng lầy lội ) ở thung khe hoặc ở cuối cánh đồng, cũng chỉ được một mùa vụ. Kĩ thuật khai phá của người Nùng theo trình tự các khâu như làm đất, làm mạ, chăm bón, thuỷ lợi và thu hoạch. Bên cạnh ruộng người Nùng còn làm rẫy, nhìn chung các dân tộc Nùng là lúa nước nhưng tuỳ điều kiện của mỗi vùng mà nông nghiệp có những vai trò khác với cuộc sống của họ, hầu hết nương rẫy vùng người Nùng thuộc hai loại: nương bằng và nương dốc. Nương bằng dùng để canh tác lúa lâu dài.
11 Canh tác mọi loại nương đều phải tuân theo một quy trình nghiêm ngặt: phá, đốt, làm đất, trồng tỉa, làm cỏ, chăm bón và thu hoạch. Người Nùng có nhiều kinh nghiệm chọn đất làm nương rẫy ở những nơi có thảm thực vật tươi để khi đốt phá được nhiều tàn tro làm phân bón. Họ cũng giỏi nhìn màu đất, xem địa thế và độ ẩm để trồng những loại lúa thích hợp. Nương lúa hầu như không bón phân vì đất tốt, khâu làm cỏ được tiến hành 2 - 3 lần.
Việc xen canh, gối vụ chủ yếu ở nương ngô. Vì sống ở vùng cao và nguồn sống chủ yếu dựa hẳn vào nông nghiệp nương rẫy là chính nên kĩ thuật trồng ngô của họ đã phát triển ở trình độ cao. Chăn nuôi: Là cư dân nông nghiệp từ xa xưa nên việc nuôi trâu, bò, ngựa để lấy sức kéo đã được đồng bào chú ý. Lợn, gà, vịt được nuôi rất nhiều và khá phổ biến vì hầu hết các nghi lễ trong đời sống hàng ngày của người Nùng đều dùng đến chúng.
Ngoài ra đồng bào Nùng còn nuôi cá và nuôi ong lấy mật. Tiểu thủ công nghiệp: Người Nùng có nhiều nghề thủ công như: đan lát, dệt, rèn, đục đá, ngói, gạch, làm bàn ghế trúc. Hầu hết các gia đình đều tự làm các đồ đan thông thường như giần sàng, tấm phên, rổ. Và không ít gia đình đã đan được mọi thứ thường dùng hàng ngày.
Công việc đan lát được tiến hành quanh năm, nhưng thường tập trung vào những ngày tháng nông nhàn. Dệt là một trong những nghề phụ của người Nùng, phát triển song song với nghề đan lát tuy nhiên do điều kiện sống cũng như do truyền thống văn hoá của dân tộc mà nghề dệt của người Nùng có những nét riêng độc đáo. Chợ phiên và trao đổi: Sự phồn vinh về kinh tế nông nghiệp, sự phát triển về các nghề phụ trong gia đình, sự phong phú và đa dạng của lâm thổ sản do thiên nhiên ưu đãi, cùng với vị trí địa lý đặc thù riêng của vùng nên từ 12 xa xưa việc trao đổi và buôn bán cũng trở nên sầm uất với các nguồn lâm sản và đặc sản. Đặc điểm văn hoá 1.
Đặc điểm văn hoá vật chất Người Nùng sống tập trung theo từng khu vực khá đông đúc thành làng bản ở dưới chân núi, phía trước là ruộng sau là núi, rừng và nương. Ranh giới gữa làng là những con suối, đèo, đường, chỗ ngoặt. Người dân trong làng sống đoàn kết, gắn bó. Đứng đầu làng là Trưởng thôn (Trưởng bản) người có uy tín trong làng.
Nhà ở: Nhà truyền thống của người Nùng là nhà sàn được xây dựng ở nơi đất cao ráo, bằng phẳng. Nhà thường cao và rộng. Nhà hình chữ nhật có ít nhất 4 gian trở lên có 2 hoặc 4 mái (thường là 4 mái). Mỗi nhà đều có một sàn rộng ở ngoài để phơi thóc đồng thời để tô điểm thêm vẻ đẹp của ngôi nhà.
Phía nhà bếp có một cầu thang lên xuống, trước cửa bếp có một sàn nhỏ (gọi là xích) là nơi đựng nước cho sinh hoạt. Phía dưới sàn nhà họ nuôi gia súc và để nông cụ sản xuất.