phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Thể loại tiểu thuyết luận đề và vị trí của Tự lực văn đoàn trong văn học Việt Nam hiện đại Chƣơng 2: Cốt truyện và nhân vật trong tiểu thuyết luận đề của Tự lực văn đoàn Chƣơng 3: Điểm nhìn trần thuật, ngôn ngữ và giọng điệu trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: THỂ LOẠI TIỂU THUYẾT LUẬN ĐỀ VÀ VỊ TRÍ CỦA TỰ LỰC VĂN ĐOÀN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 1. Giới thuyết về thể loại tiểu thuyết luận đề “Tiểu thuyết là một thể loại lớn nằm trong phương thức tự sự có khả năng phản ánh hiện thực đời sống một cách bao quát ở mọi giới hạn không gian và thời gian, khả năng khám phá sâu sắc những vấn đề thuộc về thân phận con người thông qua những tính cách đa dạng, phức tạp và khả năng tái hiện những bức tranh mang tính tổng thể rộng lớn về đời sóng xã hội” [24, tr. Tiểu thuyết là một khái niệm thể loại, một tên gọi chung nhằm phân biệt với các thể loại khác như thơ, kịch… Tuy nhiên, đây là một thể loại lớn có diện mạo đặc biệt phong phú nên sự phân loại trong tiểu thuyết thường dựa trên những cơ sở và tiêu chí khác nhau, có thể phân chia dựa trên khuynh hướng, trào lưu, đề tài, dung lượng, đặc trưng thể loại. Nhưng mọi sự phân chia này chỉ mang tính tương đối bởi quá trình tồn tại và phát triển của thể loại tiểu thuyết luôn diễn ra hiện tượng giao thoa và thâm nhập lẫn nhau giữa các yếu tố nội dung và hình thức.
Vì vậy, tiểu thuyết luận đề cũng là một thể loại ra đời theo sự phân chia mang tính tương đối này. Theo nhận định của môt số chuyên gia văn học như Susan - Rubin Suleiman (Giáo sư văn học Mỹ), Pierre Lonis Rey… thì “tiểu thuyết luận đề” có thể xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX ở Pháp; Goldenstein trong tác phẩm Để đọc tiểu thuyết (1983) cũng thừa nhận có “tiểu thuyết luận đề”. Tuy nhiên, các tác giả cho rằng “tiểu thuyết luận đề” mang một ý nghĩa hạn chế, loại tiểu thuyết này: “Thứ nhất nó có nhiều trùng lặp luận đề tư tưởng, chính trị học luân lý của nó. Luận đề được bộc lộ trực tiếp nhiều lần đến mức dư thừa; Thứ hai, nó có độc một ý nghĩa rõ ràng, chính xác đơn nhất không đa âm để dễ thuyết phục người đọc” [9, tr.
Đồng thời, các tác giả giai đoạn này cho rằng, việc chứng minh luận đề bằng tiểu thuyết là việc không phù hợp. Bởi xét về mặt khái niệm thì luận đề là những lý thuyết, những vấn đề về khoa học, xã hội, triết học, đạo đức, chính trị… có tính logic, khô cứng, đơn âm; tiểu thuyết là hư cấu, tưởng tượng, phiêu lưu, tiểu thuyết là đối thoại lớn của tác 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giả với người đọc. Tiểu thuyết mô tả đời sống riêng của con người trong mối quan hệ rộng lớn của xã hội, tiểu thuyết mang tính tự do, động, để ngỏ. Chính vì vậy, trong khái niệm, đặc trưng của tiểu thuyết và luận đề có sự đối lập: đối lập giữa tính đơn âm của luận đề với tính đa âm của tiểu thuyết; đối lập giữa sự khô cứng của luận đề với sự linh hoạt của tiểu thuyết; đối lập giữa logic chặt chẽ của luận đề với sự tự do, để ngỏ của tiểu thuyết… Ở Việt Nam, một số nhà nghiên cứu như Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Văn Xung, Phạm Thế Ngũ, Bùi Xuân Đào… có nói đến “truyện luận đề” hay “tiểu thuyết luận đề”.
Tác giả Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại (1942) căn cứ vào thực tiễn sáng tác phong phú của tiểu thuyết, đã ghi nhận hơn mười loại hình tiểu thuyết (tiểu thuyết phong tục, tiểu thuyết luân lý, tiểu thuyết tình cảm, tiểu thuyết truyền kỳ, tiểu thuyết phóng sự, tiểu thuyết hoạt kê, tiểu thuyết tả chân, tiểu thuyết xã hội, tiểu thuyết trinh thám…), trong đó có tiểu thuyết luận đề. Trong Văn học sử giản ước tân biên (1964), Phạm Thế Ngũ đưa ra quan điểm về tiểu thuyết luận đề: “Tiểu thuyết luận đề là tiếng dùng để dịch thành ngữ Pháp Roman à thèse. Luận đề đây là chỉ cái chủ trương, cái quan niệm có hệ thống của một tác giả về một vấn đề trọng đại của tư tưởng và liên quan đến xã hội nhân sinh. Nhà văn viết ra một câu chuyện với chủ ý trình bày những nhân vật, dẫn dắt các tình tiết để đi đến một kết cục, tất cả nhằm bênh vực cái quan niệm riêng của mình… Người ta nhận ra tiểu thuyết luận đề ở chỗ, tác giả đã rõ rệt chủ ý bênh vực một quan niệm, để chống lại một quan niệm khác và rõ rệt uốn nắn câu chuyện, khuôn đúc nhân vật, phục vụ cho chủ ý của mình” [44, tr.
Cùng nói về vấn đề này, Nguyễn Văn Xung trong Bình giảng về Tự lực văn đoàn (1958) đã đưa ra nhận định về tiểu thuyết luận đề của Tự lực văn đoàn nói chung, của Nhất Linh nói riêng: “Sau khi thành lập, Tự lực văn đoàn, Nhất Linh tiến sang lại tiểu thuyết luận đề, là những tác phẩm quan trọng đã gây nhiều sôi nổi trong dư luận” [59, tr. Tác giả Bùi Xuân Bào, trong Tiểu thuyết hiện đại Việt Nam (1945) cũng xếp tác phẩm Đoạn tuyệt, Lạnh lùng của Nhất Linh thuộc tiểu thuyết luận đề về cá nhân. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ những quan niệm trên, có thể hiểu: Tiểu thuyết luận đề là loại tiểu thuyết có cốt truyện và số phận nhân vật được dùng để minh họa cho một vấn đề triết học, đạo đức, xã hội (tức luận đề) có trước, qua đó nhà văn thể hiện lập trường quan điểm, tư tưởng của mình về vấn đề đó. Mục đích nhà văn viết tác phẩm là “để nêu lên một lý thuyết, để tán dương, tuyên truyền một cái gì tác giả cho là tốt đẹp, để đả đảo một cái gì tác giả cho là xấu xa, viết tiểu thuyết để phụng sự, để chứng tỏ một cái gì đó” (Nhất Linh).
Có thể nhận định đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết luận đề gồm ba điểm sau: Thứ nhất, tiểu thuyết luận đề là loại tác phẩm văn học được viết để minh họa cho một ý đồ tư tưởng xã hội. Thứ hai, tiểu thuyết luận đề thường đề cập tới các quan điểm xã hội nhân sinh, trong đó tác giả thể hiện rõ lập trường quan điểm của mình trong việc chống đối, phủ nhận vấn đề này, đề cao và tán dương vấn đề kia. Bằng những cách diễn đạt khác nhau, luận đề xã hội được bộc lộ nhiều lần, có thể được bộc lộ một cách trực tiếp, vì vậy mà ý nghĩa của tác phẩm thường sáng rõ, thậm chí có thể đơn nghĩa. Thứ ba, tiểu thuyết luận đề được xây dựng theo những nguyên tắc cấu thành của tác phẩm văn học.
Tuy nhiên, nhằm bộc lộ luận đề của tác phẩm và để cho câu chuyện trong tác phẩm trở nên xuôi chiều, rõ ràng hơn, các tác giả thường có xu hướng dẫn dắt và gạt bỏ những yếu tố ngẫu nhiên, có khi chấp nhận cả sự gò ép, khiên cưỡng trong khắc họa nhân vật, vì vậy mà có phần hơi đơn giản hóa đời sống. Ở đây, cần phân biệt hai khái niệm: “tiểu thuyết luận đề” và “luận đề của tiểu thuyết”. Luận đề của tiểu thuyết là chủ đề, là vấn đề: “Triết lý xã hội, đạo đức và các loại hình tư tưởng khác được đặt ra trong tác phẩm” [4, tr. Chủ đề được hình thành từ hiện thực cuộc sống thông qua sự khái quát hóa của nhà văn, chủ đề toát ra từ ý nghĩa khách quan của tác phẩm.
Trong mỗi cuốn tiểu thuyết đều chứa đựng ít nhất một chủ đề, nhưng không có nghĩa cứ nêu lên và giải quyết chủ đề đó thì tác phẩm sẽ trở thành tiểu thuyết luận đề; trong tiểu thuyết thường, nhân vật sẽ quyết định chủ đề, do vậy, phải hiểu được nhân vật mới hiểu được chủ đề tác phẩm. Với tiểu thuyết luận đề, luận đề là cái có trước, là sự minh họa bằng tác phẩm văn 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com học cho một ý đồ, một tư tưởng nào đó mà tác giả muốn gửi gắm. Cốt truyện và nhân vật được tác giả sử dụng nhằm chứng minh cho luận đề. Nhà văn thường xây dựng hai tuyến nhân vật đối lập, có mâu thuẫn, xung đột gay gắt với nhau, trong đó nhân vật mang tư tưởng luận đề trong tiểu thuyết luận đề thường là nhân vật chính diện, nhân vật chống lại luận đề là nhân vật phản diện.
Nhân vật cũng thường được khai thác ở những bình diện có lợi cho luận đề. Kết thúc của tiểu thuyết luận đề thường là kết thúc có hậu, luận đề được khẳng định, đề cao, kẻ chống lại luận đề bị lên án. Vì thế tiểu thuyết luận đề thường mang màu sắc đạo đức và duy lý. Bàn về tiểu thuyết luận đề, đã có nhiều ý kiến tranh luận, tuy nhiên trong thực tế, tiểu thuyết luận đề vẫn hiện diện như một khuynh hướng trong đời sống văn học.
Ở văn học Việt Nam, nó đã từng là một khuynh hướng khá rầm rộ, phát huy được vai trò và phương thức đấu tranh hạ bệ chế độ đại gia đình phong kiến truyền thống (thực chất là các gia đình thượng lưu, quan lại, chịu ảnh hưởng nặng nề của giáo lý Nho giáo, tôn ti trật tự, sùng bái những truyền thống đạo lý đã lỗi thời, đặc biệt nó kìm hãm tự do, nhất là tự do hôn nhân, tự do lựa chọn hạnh phúc cá nhân…), bài trừ những hủ tục, mê tín dị đoan và những nguyên tắc trói buộc cá nhân của luân lý Khổng Mạnh, góp phần thúc đẩy quá trình hiện đại hóa xã hội Việt Nam trong những năm 1930. Bức tranh chung về tiểu thuyết luận đề Việt Nam đầu thế kỷ XX 1. Cơ sở hình thành và phát triển của tiểu thuyết luận đề Bối cảnh xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX với sự biến động về các mặt: chính trị, kinh tế, văn hóa đã tác động trực tiếp đến sự hình thành và phát triển của tiểu thuyết luận đề. Về chính trị: Đó là thời kì đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp gay gắt, các tổ chức đảng phái xuất hiện báo hiệu sự tan rã của chế độ phong kiến, sự lung lay của chế độ thực dân, nhiều phong trào cách mạng nổ ra.
Thực dân Pháp ra sức củng cố chế độ thuộc địa ở Việt Nam, Phát xít Nhật nhòm ngó Đông Nam Á, Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập để lãnh đạo phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân ta.