mở đầu bằng câu thơ của Phạm Thiên Thư: “Ngày xưa có gã từ quan/ Lên non tìm động hoa vàng ngủ say”. Tuy 10 đây mới chỉ là sáng tác đầu tay, nhưng độc giả có thể cảm nhận được sự già dặn trong nghề được tiết chế tối đa cảm xúc và câu chữ. Cả câu chuyện cũng là một bài thơ, tiết tấu chậm, viết kỹ và tinh tế. Truyện ngắn Động hoa vàng sau đó đã được in trên báo Tiền phong Chủ nhật.
Sự nghiệp văn chương của bà nở rộ và đến gần hơn với độc giả khi tiểu thuyết Và khi tro bụi (Nxb Trẻ, 2006) trở thành cuốn sách đạt giải thưởng văn xuôi duy nhất của Hội nhà văn Việt Nam 2007. Sáng tác của Đoàn Minh Phượng không nhiều. Và khi tro bụi, Tiếng Kiều đồng vọng (Mưa ở kiếp sau) và Đốt cỏ ngày đồng chính là ba tác phẩm nổi tiếng nhất trong sự nghiệp cầm bút của bà. Sự nghiệp văn chương Và khi tro bụi là cuốn tiểu thuyết đầu tay của nhà văn Đoàn Minh Phượng, ghi dấu ấn với độc giả bởi lối viết khá lạnh nhưng vẫn đầy tinh tế và từng trải.
Nhân vật trong tác phẩm luôn có sự dằn vặt riêng tư, sống một cuộc đời đeo đuổi tìm kiếm những giá trị vô hình của sự tồn tại như để quên đi vết thương lòng đã hành hạ mình suốt ngày này tháng nọ. Mười hai chương sách đằng đẵng những uẩn khúc, chất vấn tự thân về sự sống, những giằng xé trong tâm hồn về cõi vĩnh hằng để truy ra lời giải cho câu hỏi: “Tôi là ai?”. Viết về nỗi buồn nhưng bình thản đến lạ lùng, mạch văn chậm, đều và đầy chất mộng khiến tác phẩm như được trùm phủ nhiều lớp sương, để rồi khi tan ra người ta mới thấu được nỗi bi ai, thống khổ mà họ phải chịu đựng. Đó là câu chuyện kể về cuộc đời An Mi, vốn xuất thân từ một đất nước bom rơi đạn lạc, là một đứa trẻ mồ côi được nhận nuôi bởi một gia đình ở Đức.
Cô còn đang dang dở tấm bằng cử nhân nhạc viện vì bỏ học vào năm ba, gục ngã trước áp lực của thành công và thất bại để rồi sống một cuộc đời phiêu bạt bằng nghề chụp ảnh, bưng nước nuôi thân. Rồi cô gặp được chồng mình, người không may qua đời vì xe anh rơi xuống núi ở một đoạn đèo mờ mịt sương vây ba năm sau. Từ đó, cô bỏ lại cuộc sống của mình và lang thang trên những chuyến xe lửa. Rồi cô vô tình mua phải một cuốn sổ da ẩn chứa cuộc đời của một kẻ vô vọng khác.
Cô lần theo những dấu vết ấy, truy tìm sự thật đằng sau con chữ nguệch ngoạc. Chính trong hành trình của mình, cô lại bắt gặp hành trình của một số phận khác. Và trên bước đường đi tìm cái chết của mình, cô lại rong ruổi theo những hư ảo của nhân gian để ngăn chặn cái chết của những kẻ xa lạ. Chúng chính là những tấm gương để cô soi thấu bản ngã của mình ngỡ như đã bị lãng quên suốt mất chục năm trời.
Và từ đây, câu chuyện của cô dần sáng tỏ khi sự sống đang rền vang 11 những hồi chuông cuối. Và khi tro bụi là một áng văn hay, u ám màu buồn nhưng không ủ dột. Ở một góc độ nhất định, tác phẩm là một đứa con lai Á – Âu thành hình qua những câu văn mềm oằn mình dưới sức nặng của sự đa nghĩa được đặt trong bối cảnh châu Âu hoa lệ, từ địa danh tới ẩm thực, con người và cả cách hành xử của nhân vật chính gốc Việt lớn lên dưới vòng tay của cặp vợ chồng người Đức. Với giọng văn đầy triết lý cùng những suy tưởng miên man, Và khi tro bụi đã gieo vào tâm trí người đọc những đồng cảm để sẻ chia với những số phận lay lắt ngoài kia và xúc tiến quá trình theo đuổi những giá trị cá nhân còn đang ấp ủ.
Đốt cỏ ngày đồng là tác phẩm mới của Đoàn Minh Phượng được xuất bản vào tháng 8 năm 2020 sau hơn một thập kỉ vắng bóng trên văn đàn. Tác phẩm này xuất hiện “như một cơn mưa rào làm thỏa nguyện những khao khát đợi chờ” từ giới mộ điệu. Được thai nghén trong một khoảng thời gian tương đối dài, Đốt cỏ ngày đồng đã để lại ấn tượng hết sức khác lạ so với hai thành công trước, một áng văn mạnh mẽ làm lay động các giác quan, mang hơi thở nồng nàn và đậm chất triết lý. Vẫn được viết theo kỹ thuật dòng ý thức cùng với lối hành văn thi vị, hư ảo, nhưng có thể nói Đốt cỏ ngày đồng đã có sự khác biệt căn bản so với hai tác phẩm trước.
Nó phá vỡ mọi quy ước căn bản của thể loại, nó không định rõ cốt truyện, bối cảnh, góc trần thuật. Nếu như Và khi tro bụi lấy bối cảnh ở các nước châu Âu, Tiếng Kều đồng vọng diễn ra ở các địa danh trong nước như Hà Nội, Huế, Sài Gòn, thì xuyên suốt Đốt cỏ ngày đồng tác giả hầu như không nhắc tới một địa điểm nào cụ thể. Ta chỉ bắt gặp những cụm mô tả chung chung, mơ hồ. cùng Đoàn với những địa danh hư cấu như làng Duy Hà, đường Huyền Trân, cung Elysia,… Đoàn Minh Phượng trong Đốt cỏ ngày đồng đã thực hiện chuyến hành trình đi sâu hơn vào thế giới tâm tưởng thay vì neo vào các cột mốc từ thế giới hiện thực.
Cách xây dựng này càng làm xóa nhòa những nhận thức vốn có của bạn đọc về một thế giới vật lý mà ta cảm nhận bằng năm giác quan, để đưa đẩy họ hay thậm chí bó buộc họ vào một khung trời hư cấu thuộc bề sâu tiềm thức mà nhà văn tạo tác. Phương diện này ở Và khi tro bụi và Tiếng Kiều đồng vọng đã bộc lộ phần nào, nhưng đến với Đốt cỏ ngày đồng mới hiện lộ và bao trùm toàn tác phẩm. Đặc biệt, sau một thập kỷ, tác phẩm của bà hầu như đã mang một màu văn mới: nồng nàn và mãnh liệt hơn. Nếu ở Và khi tro bụi được đánh giá là “viết bằng thứ văn giản dị, sâu nhưng dường như vẫn thiếu sự nồng nhiệt, thiết cháy tận cùng cảm xúc của cái tôi người viết” [27] thì đến với Đốt cỏ ngày đồng ta có thể thấy được màu sắc nồng nhiệt này.
Có thể nói nhờ sự thay đổi này mà tác phẩm đã trở nên mềm mại hơn, có sức lay 12 động mạnh mẽ hơn. Nhân vật kể chuyện chính là Mây, có người yêu bị bắt giam vào tù, những ngày cuối cùng ở bên nhau và những tháng chợ đợi G mãn hạn, cũng như những dòng cảm xúc mà Mây bộc bạch tình cảm về Quyên. Tất cả đều cho ta thấy được một giọng văn thiết tha và đầy cảm xúc. Người đọc được tác giả dẫn dắt vào câu chuyện qua nhũng dòng chảy cảm xúc.
Đây chính là kỹ thuật dòng ý thức mà Đoàn Minh Phượng vận dụng thành công trong mọi sáng tác của mình. Một áng văn dạt dào, sâu lắng nhờ tính triết lý xuyên suốt tác phẩm. Ta lại bắt gặp màu sắc hiện sinh trong sáng tác của Đoàn Minh Phượng thông qua những tư tưởng về nhân vị, sự tự do, về sự ê chề của kiếp người, sự hoài nghi thực tại và rõ ràng nhất là nỗi ám ảnh về sự đổ vỡ. Tác giả kết thúc tác phẩm bằng các để ngỏ, như chính bà chia sẻ rằng: “Còn đoạn kết? Vì ngoài sức mình, nên tôi chỉ có thể viết một câu rồi bỏ đó.
Nó đã trở thành khoảng không của bạn. Đốt có ngày đồng không kết thúc bằng một dấu chấm câu để trở nên toàn vẹn mà rơi vào tâm trạng mênh mông của người đọc, gợi mở nhứng uy tưởng sâu xa và rộng lớn hơn. Có lẽ những gì lưu lại đậm đà nhất sau khi người ta đọc xong tác phẩm chính là tiếng lao xao của cảm xúc hoang hoải những nỗi buồn. Quan niệm nghệ thuật Xuyên suốt các tác phẩm của Đoàn Minh Phượng đều bắt gặp những con người cô đơn, lạc lõng, đi tìm bản ngã của mình và sự bất lực trước thực tại hỗn mang.
Các nhân vật đều mang trên mình những ký ức, quá khứ đau thương, họ vừa muốn quên đi nhưng lại vừa muốn truy tìm nó như cách xác định căn cước bản thân. Mạch văn của Đoàn Minh Phượng thường trầm buồn và chậm rãi, đôi lúc lại vô cùng nồng nhiệt và thiết tha. Đề tài sáng tác của bà thường xoay quanh những vấn đề về nguồn cội, nhân sinh và bản thể con người. Là một nhà văn hải ngoại, có lẽ nguồn cội quê hương chính là một nỗi ám ảnh thường trực trong tâm hồn bà.
Để rồi khi trở về Việt Nam bà “luôn tự nhủ, mình phải làm gì đó để đánh dấu sự trở về này. Nó ám ảnh tôi như một món nợ phải trả. Mà nợ ai? Có lẽ là nợ chính mình”. Đoàn Minh Phượng tự nhận mình là một người có lối viết khá lạnh.
Phong cách sáng tác của bà cũng vô cùng độc đáo. “Tôi thường nghĩ ra cốt truyện, dựng dàn bài và viết từng chương rời rạc. Tôi không viết theo trật tự nào hết mà nhảy cóc từ chương này sang chương nọ. Sau khi viết xong rồi tôi mới quay lại và kết nối chúng lại với nhau.
Thường thì khi lắp ráp, tôi chọn lọc và bỏ đi rất nhiều chương. Cũng giống như trong điện ảnh, người ta quay rất nhiều cảnh rồi lựa chọn những cảnh đẹp nhất, đạt nhất” [27]. Sự phân mảnh, rời rạc của cốt truyện 13 và nghệ thuật đa điểm nhìn có lẽ cũng ảnh hưởng và xuất phát từ đây. Như mạch nguồn của dòng chảy, chất triết lý suy ngẫm xuyên suốt trong tác phẩm của Đoàn Minh Phượng và trở thành nét đặc trưng trong tiểu thuyết của bà.
Với kỹ thuật dòng ý thức đã đưa câu chuyện diễn tiến tự nhiên theo dòng cảm xúc. Đoàn Minh Phượng không chỉ nhận diện những đổ vỡ trên bề mặt đời sống xã hội mà còn đi sâu vào những đổ vỡ trong tâm hồn con người. Tác giả đã đưa vào tiểu thuyết những mảnh vụn của hiện thực ngổn ngang, ê chề. Không có hiện thực nào được hoàn nguyên, hiện thực là những điều phi lý, vụn vỡ, đứt đoạn.
Do vậy, có nhiều cách để lý giải, mô tả khác nhau về những sự kiện và không có sự lí giải nào có thể nắm bắt được chính xác sự kiện. Chỉ qua những sự việc hay cảnh huống nào đó, một đoạn nhỏ trong ký ức mới hiện ra khiến cho nhân vật cảm thấy mình như kẻ lạc loài với thế giới.