Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN THỂ CHẾ THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP XANH 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG NGHIỆP XANH VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP XANH 1. Các công trình nghiên cứu ngoài nước liên quan đến công nghiệp xanh, phát triển công nghiệp xanh UNIDO (2011), Green Industry Policies for supporting green Industry, tạm dịch: Chính sách hỗ trợ Công nghiệp xanh [122], nghiên cứu chỉ ra 2 nội dung chủ yếu của công nghiệp xanh, bao gồm: (1) Xanh hóa các ngành công nghiệp hiện có: cải tạo các ngành công nghiệp hiện tại theo hướng nâng cao hiệu quả sản xuất, nâng cao hiệu quả môi trường và giảm thiểu rủi ro sức khỏe; và (2) Tạo ra các ngành công nghiệp xanh: hình thành hệ thống các ngành công nghiệp xanh mới như năng lượng tái tạo, quản lý, vận chuyển, tái chế chất thải, kiểm soát ô nhiễm không khí, cung cấp dịch vụ theo dõi, đo lường và phân tích chất lượng môi trường. Nghiên cứu trên nền tảng các khảo sát xã hội học thực tế, thông qua 2350 mẫu quan sát ở 12 quốc gia trên thế giới để thấy rõ hơn hành vi tiêu dùng của dân cư tiến dần đến các yêu cầu “xanh” trong sản xuất.
Với kết quả khảo sát, nghiên cứu hướng đến nhấn mạnh tầm quan trọng của sản xuất xanh và tăng trưởng xanh đối với phát triển bền vững trên thế giới hiện nay. Những giá trị thực chứng từ các vấn đề ô nhiễm môi trường, phát thải nhà kính. Công trình nghiên cứu này là 12 tổng hợp các ý kiến chuyên gia trong nhiều lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ tài chính trong việc mô hình hoá các quy trình để đạt được những giá trị “xanh” trong mỗi ngành. Nghiên cứu cũng chỉ rõ, chỉ có phát triển theo hướng xanh mới có thể đạt được các yêu cầu trong phát triển bền vững.
Vazquez-Brust and J. Nghiên cứu trên cơ sở xây dựng một lộ trình mang tính chất tuần tự để chuyển đổi từ công nghiệp truyền thống sang công nghiệp xanh. Theo nghiên cứu, cần phải có một sự chuẩn bị nhất định các yêu cầu về mặt tài chính; định hướng của chính phủ, quyết tâm hành động của chính phủ cũng như một thể chế toàn diện để ngành công nghiệp thực sự được thay đổi. Đích hướng đến của quá trình chuyển đổi này bên cạnh lợi ích kinh tế thuần túy mà ngành công nghiệp mang lại, các giá trị về xã hội và môi trường được cải thiện tốt hơn.
Lâu dài, một hệ sinh thái về phát triển xanh diễn ra ở tất cả các ngành nghề, lĩnh vực và là mục tiêu của phát triển bền vững. “Park và cộng sự (2015), “A review of the National Eco Industrial Park Development Program in Korea: progress and achievements in the first phase”, 2005 – 2010, tạm dịch: Đánh giá Chương trình phát triển Khu công nghiệp sinh thái quốc gia tại Hàn Quốc: tiến độ và thành tựu trong giai đoạn đầu, 2005 – 2010 [110]. Bài viết cung cấp một đánh giá toàn diện về giai đoạn đầu tiên của Chương trình Phát triển Khu công nghiệp Sinh thái Quốc gia Hàn Quốc (EIP) từ năm 2005 đến 2010 để xem xét những thành công của chương trình và các yếu tố hạn chế để rút ra bài học về cách cộng sinh công nghiệp có thể được phát triển thành công ở những nơi khác. Chương trình EIP của Hàn Quốc xuất hiện từ bối cảnh 50 năm phát triển công nghiệp nhằm chuyển đổi cấu trúc công nghiệp truyền thống thành EIP sử dụng sản xuất sạch hơn ở cấp độ khu công nghiệp.
Trong năm năm đầu tiên, các trung tâm EIP khu vực được thành lập tại 13 năm địa điểm thí điểm đã phát triển và thực hiện 47 dự án chia sẻ tài nguyên, tạo ra những lợi ích đáng kể không những dưới góc độ kinh tế và còn đạt được các giá trị tích cực về sinh thái môi trường. Đạt được điều này là nhờ một hệ thống thể chế kết hợp hiệu quả các phương pháp tiếp cận từ trên xuống và từ dưới lên cũng như vai trò trung gian của các trung tâm EIP khu vực, nơi tập hợp các bên liên quan tại địa phương từ các doanh nghiệp, chính phủ và các tổ chức nghiên cứu. Bằng cách học hỏi trong giai đoạn đầu tiên, Hàn Quốc đã thiết lập mô hình phát triển công nghiệp sinh thái của riêng mình, mô hình này sẽ tiếp tục phát triển trong giai đoạn thứ hai và thứ ba. T & cộng sự (2017), Green Industrial Policy.
Concept, Policies, Country Experiences, tạm dịch: Khái niệm, chính sách, kinh nghiệm quốc gia [84]. Cuốn sách cung cấp cái nhìn tổng quan chi tiết về các chính sách và công cụ khác nhau cho chính sách công nghiệp xanh bao gồm: các cơ chế dựa trên thị trường, chẳng hạn như: thuế môi trường, giấy phép có thể mua bán, trợ cấp và các công cụ quản lý. Tác giả, cũng đưa ra lời khuyên về cách vượt qua những bế tắc chính trị có thể thách thức việc thực hiện chính sách công nghiệp xanh: nó kêu gọi một cách tiếp cận theo trình tự và thử nghiệm thí điểm khi đưa ra chính sách công nghiệp, xây dựng liên minh và sự tham gia của các bên liên quan vào sự thay đổi mang tính chuyển đổi cũng như các cơ chế kiểm soát để theo dõi và đánh giá việc thực hiện chính sách. Các công trình trong nước liên quan đến công nghiệp xanh, phát triển công nghiệp xanh Nguyễn Trọng Hoài (2012), “Mô hình tăng trưởng xanh: Khung phân tích và lựa chọn chính sách cho Việt Nam” [35, tr.
Tác giả đã giới thiệu cách tiếp cận tăng trưởng xanh, một tiếp cận cụ thể hơn so với tiếp cận bền vững về tăng trưởng. Dựa vào khung phân tích tăng trưởng xanh của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), nghiên cứu lựa chọn một số chỉ tiêu có khả năng đo lường nhằm khái quát hoá những cơ hội trong thực hiện 14 tăng trưởng xanh ở Việt Nam và từ đó đưa ra một số gợi ý chính sách cho tiếp cận mới này. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, kinh tế Việt Nam đang phải trực diện với những rào cản lớn trong việc hướng tới một mô hình tăng trưởng xanh, đó là việc khi các yếu tố đầu vào truyền thống trở nên cạn dần, nền kinh tế tỏ ra kém hiệu quả, lãng phí, và phát thải các chất gây ô nhiễm nhiều hơn. Thêm vào đó là các thách thức về cạn kiệt tài nguyên, suy giảm chất lượng môi trường sống do quá trình công nghiệp hóa.
Trong bức tranh không mấy khả quan ấy, nổi lên những điểm sáng đó là năng suất phát thải các chất gây ô nhiễm trong nông nghiệp được cải thiện, tỉ lệ che phủ của rừng gia tăng đáng kể, cải thiện các điều kiện nước sạch, vệ sinh, và bước đầu đã xây dựng và ban hành khung chính sách bảo vệ môi trường qua hệ thống luật. Gợi ý chính sách từ nghiên cứu này là Việt Nam nên nhấn mạnh sự kết hợp của nhiều công cụ chính sách khác nhau, sự phối hợp hành động của toàn xã hội, và sự hợp tác quốc tế để đạt được mục tiêu tăng trưởng xanh.”“ Nguyễn Trọng Hoài & Lê Hoàng Long (2014), “Phát triển công nghiệp theo hướng tăng trưởng xanh: Nghiên cứu điển hình Đồng bằng sông Cửu Long”, [36]. Nghiên cứu này đề cập tiếp cận mới đối với phát triển, đó là phát triển công nghiệp theo định hướng tăng trưởng xanh. Nghiên cứu đánh giá hiện trạng công nghiệp của vùng Đồng bằng sông Cửu Long theo tiếp cận tăng trưởng xanh, đồng thời đánh giá những chính sách của Nhà nước hỗ trợ cho tiếp cận tăng trưởng xanh trong công nghiệp.
Tác giả sử dụng dữ liệu từ bộ khảo sát dành cho đối tượng doanh nghiệp năm 2010 của Tổng cục Thống kê, vì cho đến nay bộ dữ liệu này vẫn là bộ dữ liệu mới nhất. Kết quả cho thấy doanh nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long đầu tư thiết bị vật chất lẫn nhân lực cho hoạt động bảo vệ môi trường và sản xuất sạch còn khá thấp. Tuy nhiên, doanh nghiệp thuộc những nhóm ngành quan trọng của Đồng bằng sông Cửu Long như: chế biến thực phẩm - đặc biệt là chế biến thủy sản, chế biến dược liệu, sản xuất hóa chất. đều có đầu tư đáng kể cho các hoạt động này.
Các 15 chính sách của Nhà nước hỗ trợ phát triển công nghiệp theo hướng thân thiện với môi trường khá đa dạng và bao quát nhưng còn chưa đạt được mức độ cụ thể và còn chồng chéo. Từ đó nghiên cứu đề ra các khuyến nghị chính sách cơ bản nhằm nâng cao khả năng xanh hóa ngành công nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và cho Việt Nam nói chung. Nguyễn Huy Hoàng chủ biên (2015), Chính sách tăng trưởng xanh ở một số nước ASEAN trong bối cảnh tái cấu trúc nền kinh tế và ứng phó với biến đổi khí hậu” [37]. Với cách tiếp cận so sánh, tác giả của công trình đã phân tích chính sách tăng trưởng xanh của các nước Indonesia, Malaysia, Phillippines và Thái Lan.
Thông qua đó, tác giả nhận thấy rằng để “xanh hoá” nền kinh tế cần phải tiến hành đồng bộ các giải pháp, đó là: (i) Đảm bảo tính hiệu quả về kinh tế và môi trường của nhóm các chỉ số về môi trường và tài nguyên của nền kinh tế, (ii) Đảm bảo tính bền vững về nhóm các chỉ số về kinh tế và môi trường, (iii) Tăng trưởng phải bảo đảm duy trì chất lượng môi trường sống, (iv) Tăng trưởng phải biết vận dụng vào các cơ hội kinh tế và phản ứng của chính sách tăng trưởng, (v) tăng trưởng xanh phải được đặt trong bối cảnh kinh tế - xã hội và đặc điểm của tăng trưởng truyền thống, (vi) Việc thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh không đơn giản cho các nước Asean nói chung và các nước Indonesia, Malaysia, Phillippines và Thái Lan nói riêng đang phải đối mặt với một số khó khăn nhất định là sự bất cân đối về cơ cấu kinh tế, biến đổi khí hậu đang ngày càng hiện hữu và thách thức các nước, thiếu hụt nguồn nhân lực và tài lực.” Lê Nguyên Thành (2020), Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng mục tiêu phát triển công nghiệp phục vụ chiến lược công nghiệp Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045 [67], đề tài đã sử dụng phương pháp so sánh để đánh giá thực trạng và kết quả quá trình phát triển công nghiệp Việt Nam trong khu vực và thế giới, trên cơ sở các chỉ tiêu phát triển của ngành công nghiệp, hoặc có liên quan đến ngành công nghiệp.