Chương 1: VẤN ĐỀ CHỦ THỂ TIẾP NHẬN TRONG LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN VĂN HỌC HIỆN ĐẠI Tác phẩm văn học đã trở thành vấn đề trung tâm của tƣ duy lý luận văn học. Vậy tác phẩm văn học đƣợc hình thành nhƣ thế nào? Lý giải về vấn đề này, trong lý luận văn học đã có cách nhìn nhận, khám phá, lí giải khác nhau về tác phẩm văn học đặt trong hành trình từ tƣ duy lý luận truyền thống đến hiện đại. Nếu trƣớc đó, lý luận văn học quan tâm đến tác giả, chủ thể sáng tạo đặt trong mối quan hệ với tác phẩm thì lý thuyết tiếp nhận hiện đại lại nhấn mạnh đến yếu tố quan trọng là mối quan hệ văn bản – ngƣời đọc trong phƣơng thức tồn tại của tác phẩm văn học, từ đó chỉ ra sự khác biệt giữa văn bản văn học và tác phẩm văn học. Từ những sự lí giải và so sánh đó để khẳng định vai trò quan trọng của ngƣời đọc trong việc hình thành các giá trị của văn học.
Nghiên cứu Tác phẩm văn học từ quan niệm truyền thống 1. Mối quan hệ giữa văn bản văn học và hiện thực Vấn đề văn học và hiện thực đặt trong mối quan hệ mật thiết với nhau đã đƣợc triết gia Hy Lạp cổ đại Socrat (469 – 399 TCN) đƣa ra trong thuyết “mô phỏng”, con ngƣời là trung tâm của mọi sự chú ý. Tiếp theo đó là sự xuất hiện của Aristote (384 – 322 TCN) khi ông đƣa ra những bàn luận về nghệ thuật, quan niệm về thi pháp học với thuyết “mô phỏng”, “bắt chƣớc”. Theo Aristote mọi sáng tạo nghệ thuật chính là sự mô phỏng, trong đó có mô phỏng tự nhiên và sau đó là mô phỏng nghệ thuật, phản ánh hiện thực.
“Sự mô phỏng vốn sẵn có ở con người và con người khác giống vật ở chỗ học có tài mô phỏng, nhờ có mô phỏng đó mà họ thu nhận được những kiến thức đầu tiên. Nhƣ vậy, nghệ thuật có mối liên quan đến con ngƣời. Con ngƣời trở thành trung tâm của nghệ thuật. Thông qua sự “thanh lọc” nghệ thuật làm cho con ngƣời đẹp hơn, cao thƣợng hơn, thoát khỏi những dục vọng tầm thƣờng và xấu xa.
“Sự mô phỏng đó nhờ vào ngôn ngữ - ngôn ngữ này trong mỗi phần có sự 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trau chuốt khác nhau, bằng hành động chứ không phải bằng câu chuyện kể, bi kịch qua cách khêu gợi nên sự xót thương và sợ hãi, thực hiện sự thanh lọc các cảm xúc tương tự” [1; tr190]. Chính từ những luận thuyết này của Aristote đã có những ảnh hƣởng sâu sắc đến các nhà văn cổ đại và lịch sử phát triển của tƣ duy lý luận văn học. Sự “khuôn mẫu” định sẵn trong sáng tạo thơ ca với tác phẩm chính là dấu ấn của hệ thống thi pháp đƣợc coi là quy phạm mẫu mực trong việc sáng tạo thơ ca. Các quan điểm nghệ thuật này của Aristote đã có ảnh hƣởng sâu sắc không chỉ cùng thời mà còn đƣợc kế thừa và phát triển đến thời Phục Hƣng, chủ nghĩa cổ điển thế kỷ XVII, thời kỳ Khai Sáng thế kỷ XVIII.
Tƣ tƣởng của Aristote đƣợc coi là nền tảng cơ bản cho sự phát triển của Mỹ học và Lý luận văn học. Tuy nhiên, chính từ quan niệm của Aristote về nghệ thuật sáng tạo đã bị thu hẹp lại ở góc độ tác giả với tƣ cách là chủ thể sáng tạo và cả cho ngƣời đọc. Từ những nguyên tắc “mô phỏng”, “bắt chƣớc” của Aristote là tiền thân của lý thuyết phản ánh, vấn đề văn học và hiện thực đặt trong mối quan hệ với nhau đã đƣợc xác lập. Bƣớc sang thế kỷ XIX, vấn đề văn học và hiện thực đƣợc chú ý, quan tâm và khám phá với Chủ nghĩa hiện thực và nguyên tắc văn học phản ánh chân thực cuộc sống “Tái hiện sự thật thực tại cuộc sống một cách chân thực và mạnh mẽ là hạnh phúc cao quý nhất của nhà văn ngày cả khi sự thật ấy không phù hợp với những thiện cảm riêng của nhà văn” [55; tr539].
Yếu tố hiện thực chiếm giữ vai trò quan trọng chi phối trực tiếp đến việc sáng tạo văn học, nhà văn trở thành ngƣời thƣ ký trung thành của thời đại. Nếu nhƣ lấy yếu tố hiện thực khách quan, hiện thực đƣợc phản ánh làm quy chuẩn để đánh giá tác phẩm và tác phẩm văn học luôn đặt trong sự soi chiếu với hiện thực khách quan thì khi có sự đồng nhất giữa hiện thực khách quan và hiện thực văn học, tác phẩm văn học đã trở thành “công cụ” phản ánh, nhận thức. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Một trƣờng phái phê bình văn học “văn hóa – lịch sử” xuất hiện nửa sau thế kỷ XIX với ngƣời đứng đầu là nhà phê bình văn học, nhà sử học ngƣời Pháp, H. Nhà phê bình đã đặt tác phẩm trong mối quan hệ với hiện thực khách quan.
Đó là cách soi chiếu vào tác phẩm văn học từ môi trƣờng, chủng tộc và thời đại gắn với đạo đức, tâm lí thời đại. Theo quan điểm của nhà nghiên cứu này, tác phẩm văn học là “đài tƣởng niệm” ghi dấu ấn của thời đại, là sản phẩm của hoàn cảnh văn hóa – lịch sử cụ thể. Vì vậy để tìm hiểu tác phẩm văn học cần phải “phục chế lại trạng thái, tinh thần và đạo đức” của thời đại mà tại thời điểm tác phẩm đó ra đời. Từ những tiền đề lý luận đƣợc kế thừa – phát triển của Aristote đến phƣơng pháp luận của Marx, Engels, Lênin, mối quan hệ văn học hiện thực đã trở thành “xƣơng sống” của hệ thống lý luận mácxit.
Mỹ học mácxit đã phát triển tiếp mối quan hệ văn học và hiện thực trên cơ sở của triết học duy vật biện chứng giữa cơ sở kinh tế xã hội và thƣợng tầng kiến trúc. Mô hình lý thuyết phản ánh vẫn đƣợc các nhà lý luận mácxit nhƣ G. Fischer tiếp tục nghiên cứu và khẳng định. Sự thống nhất trong tƣ tƣởng của các nhà lý luận chính là việc khẳng định tác phẩm văn học luôn tồn tại trong các hoạt động phản ánh, của mối quan hệ giữa đời sống xã hội với văn học.
Có thể nói, Tác phẩm văn học là kết quả của quá trình phản ánh, là hình ảnh tái hiện của thế giới khách quan, với những “mô phỏng tự nhiên” bằng những thủ pháp nghệ thuật. Mối quan hệ giữa văn học và hiện thực, tác phẩm văn học – hiện thực cuộc sống luôn tồn tại và song hành cùng nhau. Yếu tố hiện thực là yếu tố chính quyết định đến sự ra đời của tác phẩm văn học bên cạnh yếu tố xuất xứ và nguyên nhân. Vì vậy, tác phẩm văn học sẽ không có giá trị nếu nhƣ không phản ánh đƣợc hiện thực với những sự thật của cuộc sống.
Vấn đề hiện thực xã hội chính là 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vấn đề chính cần tìm hiểu và nhận thức trong nghiên cứu về tác phẩm văn học. Mối quan hệ giữa văn bản văn học và tác giả Thế kỷ XIX, tƣ duy văn học phƣơng Tây đề cập chủ yếu đến mối quan hệ tác phẩm văn học và hiện thực cuộc sống. Phản ánh hiện thực là tiêu chí để đánh giá sự thành công của tác phẩm. Song hành cùng mối quan hệ tác phẩm và hiện thực, mối quan hệ giữa tác phẩm văn học và tác giả lại trở thành mối quan hệ truyền thống trong tƣ duy văn học Phƣơng Đông.
Tác phẩm văn học đƣợc quan niệm là nơi chuyển tải kí thác tâm sự, giãi bày tƣ tƣởng, tình cảm – cảm xúc của nhà văn. Nhƣ vậy, tác giả chính là ngƣời giữ vai trò chủ đạo trong hành trình hình thành tác phẩm văn học: Cuộc sống – Tác giả - Tác phẩm. Mối quan hệ giữa tác phẩm văn học và tác giả đƣợc thể hiện rõ qua các quan niệm “thi dĩ ngôn chí” thời chiến quốc, tiếp đó là quan niệm văn học Tống Nho “văn dĩ tải đạo” đã có sự ảnh hƣởng sâu sắc đến thế hệ các nhà văn phong kiến. Nếu nhƣ giai đoạn trƣớc đó, nhà văn đƣợc coi là ngƣời thƣ ký trung thành của thời đại thì đến giai đoạn sau này, nhà văn trở thành chủ thể sáng tác tác phẩm văn học.
Tác phẩm là “con đẻ” là sản phẩm tinh thần của nhà văn. Vì lẽ đó, sự tồn tại cũng nhƣ giá trị của tác phẩm là do nhà văn quyết định. Hiện thực cuộc sống chuyển tải vào tác phẩm đƣợc nhìn qua lăng kính chủ quan của nhà văn. Vì vậy mà dấu ấn cá nhân, dấu ấn tác qua tác phẩm đƣợc thể hiện rất rõ nét.
Theo đó, tác phẩm trở thành “phát ngôn” của nhà văn, bộc lộ cái “Tôi” đầy cá tính qua tác phẩm văn học. Trong nghiên cứu văn học, vấn đề ảnh hƣởng của tác giả đến sáng tác văn học đƣợc phát hiện vào thế kỷ XIX. Ngƣời nghiên cứu văn học từ phƣơng pháp Phê bình tiểu sử là nhà phê bình văn học ngƣời Pháp Sainte Beuve (1804 – 1869), đã đƣa ra những nghiên cứu về tác phẩm văn học nhìn từ góc độ chủ thể sáng tạo là nhà văn với yếu tố quan trọng là tiểu sử 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tác giả, lịch sử tác động…Cũng theo nhà nghiên cứu này, tác phẩm chính là “chìa khóa” để tìm hiểu và khám phá thế giới tâm hồn của ngƣời nghệ sĩ. Nhƣ vậy, nghiên cứu tác phẩm văn học trong mối quan hệ với tác giả, lý luận văn học đã khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của nhà văn trong quyết định giá trị của tác phẩm cũng nhƣ sự hình thành tác phẩm văn học.
Bên cạnh đó, tác phẩm văn học trở thành tiếng nói chuyển tải tƣ tƣởng, tình cảm của nhà văn. Nhà văn trở thành ngƣời sáng tạo tác phẩm văn học và “tự cho mình quyền” đƣợc khẳng định ý nghĩa, sự tồn tại của tác phẩm. Rõ ràng, xét trong mối quan hệ tác phẩm văn học và tác giả, thì tác giả chính là chủ thể sáng tạo, có vai trò vừa sáng tạo vừa thƣởng thức tác phẩm của mình và đƣợc quyền quyết định sự tồn tại của tác phẩm. Với quyền uy đặc biệt này của tác giả, tƣ duy văn học truyền thống đã bỏ qua một khâu quan trọng đó tiếp nhận văn học, trong đó vai trò của ngƣời đọc chƣa đƣợc chú ý, quan tâm và có những nghiên cứu đầy đủ, hệ thống trong mối quan hệ với tác phẩm văn học.
Ngƣời đọc trở thành ngƣời đọc “thụ động”, khám phá những ý nghĩa có sẵn trong tác phẩm văn học mà thôi.