MỞ ĐẦU Ngày nay, các bệnh về dạ dày, bao gồm cả ung thư dạ dày ngày càng phổ biến trên thế giới và ở Việt Nam. Năm 1982, Marshall và Warren phát hiện một loại vi khuẩn hiện diện ở niêm mạc dạ dày đặt tên là Campylobacter pylori, sau đặt tên là Helicobacter pylori (H. Vi khuẩn này được xác định là nguyên nhân chính gây ra phần lớn các bệnh lý liên quan đến dạ dày-tá tràng, do vậy tiệt trừ H. pylori được xem là liệu pháp quan trọng trong điều trị các bệnh dạ dày.
Phần lớn các phác đồ điều trị bệnh dạ dày do H. pylori sử dụng kết hợp nhiều loại kháng sinh như amoxycillin, tetracyline, metronidazole và thuốc chống tiết acid hoặc thuốc bảo vệ niêm mạc dạ dày. Các phác đồ điều trị sử dụng kháng sinh trước đây là hiệu quả, tuy nhiên số liệu thống kê gần đây cho thấy khả năng kháng thuốc của vi khuẩn ngày càng tăng. Chính vì vậy, việc nghiên cứu thuốc mới, đặc biệt từ các hợp chất thiên nhiên nhằm khắc phục tình trạng này, đồng thời hạn chế tác dụng phụ của thuốc có bản chất tổng hợp hóa học là nhu cầu cấp thiết.
Mặt khác, Việt Nam có nguồn thảo dược phong phú, được dùng trong nhiều bài thuốc cổ truyền để chữa đau dạ dày, từ đây có thể tìm thấy các chất ức chế tự nhiên đối với H. Với mục tiêu tìm ra hợp chất tự nhiên ức chế vi khuẩn H. pylori nhằm bước đầu ứng dụng trong nghiên cứu tìm ra thuốc mới chữa bệnh dạ dày, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Sàng lọc một số hợp chất từ thảo dƣợc có khả năng tiêu diệt vi khuẩn Helicobacter pylori gây viêm loét dạ dày”. Phạm Thị 1 K22 Cao học sinh Luận văn thạc sĩ khoa Chƣơng 1.
Bệnh dạ dày Ngày nay, các bệnh về dạ dày, bao gồm cả ung thư dạ dày ngày càng phổ biến trên thế giới và ở Việt Nam. Bệnh lý thường gặp nhất trong số các bệnh này là viêm loét dạ dày hay còn gọi là bệnh dạ dày thường đi kèm với sự xuất hiện những tổn thương ở hệ thống ống tiêu hóa đặc biệt là phần đầu ruột non (Hình 1. Đặc điểm chính của bệnh là mãn tính, diễn biến có chu kỳ, thường tái phát và dễ gây biến chứng nguy hiểm như chảy máu hay thủng dạ dày thậm chí tiến triển thành ung thư dạ dày gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và công việc của người bệnh. Một số vị trí tổn thương ở người mắc bệnh dạ dày [78] 1.
Thực trạng bệnh dạ dày ở Việt Nam và trên thế giới Bệnh dạ dày là căn bệnh có từ lâu và phổ biến trên thế giới [47] với khoảng 4 % người mắc bệnh. Riêng ở các nước phát triển tần suất mắc bệnh cao hơn gần gấp đôi (7-10 %) [58]. Theo thống kê, mỗi năm khoảng 0,1-0,2 % dân số được chẩn đoán mắc mới, tỷ lệ những người nhập viện do mắc mới từ 0,03-0,17 % (Bảng 1. Tại Mỹ, bệnh dạ dày ảnh hưởng tới 5.000 người, mỗi năm có khoảng 500.000 người mới mắc bệnh [37].
Ở các nước châu Âu và Australia, từ năm 1992-1999 tỷ lệ mắc bệnh dạ dày giảm từ 205 xuống còn 7,7 người mắc bệnh/100. Bệnh dạ dày có thể gặp ở mọi lứa tuổi và giới tính, tuy nhiên ở trẻ em ít phổ biến hơn, thường được phát hiện lần đầu trong độ tuổi 30-50 và phát triển thành viêm dạ dày ở độ tuổi trên 60 tuổi [24]. Những người có nguy cơ mắc bệnh cao nhất là nam Phạm Thị 2 K22 Cao học sinh Luận văn thạc sĩ khoa giới ở độ tuổi từ 55-65. 35 % trong số các bệnh nhân viêm loét được chẩn đoán là có các biến chứng nguy hiểm có thể dẫn đến ung thư dạ dày [82].
Tỷ lệ mắc bệnh dạ dày được phát hiện đối với dân số nói chung năm 2009 [70] Chẩn đoán Tài liệu tham khảo Quốc gia Kích Tỷ lệ mắc mới cơ bản thƣớc bệnh dạ dày mẫu (%/năm) Bác sĩ chẩn Bartholomeeusen và Bỉ 140.000 0,19 đoán cs (2007) Garcia Rodruigez Anh 458.840 0,10 and Hernandez Diaz (2004) Lassen và cs (2006) Đan Mạch 470.000 0,15 Perez-Aisa và cs Tây Ban Nha 237.000 0,17 Paimela và cs (2002) Phần Lan 5.000 0,07 Post và cs (2002) Hà Lan 15.000 0,03 Tỷ lệ tử vong do viêm loét dạ dày thấp, tuy nhiên tỷ lệ mắc mới và tử vong do biến chứng của bệnh rất cao. Năm 2012, trên thế giới có khoảng 952.000 người mắc mới ung thư dạ dày, bệnh ung thư phổ biến thứ 5 sau các bệnh ung thư phổi, vú, đại trực tràng và tuyến tiền liệt [81]. Trong đó, trên 70 % trường hợp mắc bệnh (677.000 người) là ở các nước đang phát triển và một nửa trong số này đến từ các nước Đông Á (Đông Nam Á và Trung Quốc) mà chủ yếu là từ Trung Quốc. Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 2012, tại Mỹ có 21.000 trường hợp mới mắc bệnh, khu vực Đông Nam Á có 91.000 người trong khi đó Trung Quốc có 405.000 trường hợp [96].
Đến năm 2014, tại Mỹ, khoảng 22.220 người được chẩn đoán mắc ung thư dạ dày trong số đó có 10.990 bệnh nhân có nguy cơ tử vong cao [65]. Trên thế giới, ung thư dạ dày là nguyên nhân gây tử vong thứ 2 trong số các bệnh ung thư (Hình 1. Năm 2012 trên toàn thế giới có 723.000 người tử vong vì ung thư dạ dày, chiếm 8,8 % số trường hợp tử vong vì ung thư trên toàn thế giới. Tỷ lệ tử vong cao nhất ở các nước Châu Phi và thấp nhất ở các nước phát triển [96].
Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, Trung Quốc là nước có số trường hợp mắc Phạm Thị 3 K22 Cao học sinh Luận văn thạc sĩ khoa mới và tử vong liên quan đến bệnh ung thư dạ dày cao nhất thế giới, tiếp theo là Nhật Bản và Ấn Độ. Ước lượng tổng số trường hợp tử vong do ung thư bởi cơ quan nghiên cứu Ung thư Quốc tế và hiệp hội Gánh nặng Ung thư Toàn cầu năm 2000 [60] Ở Việt Nam, những năm gần đây, bệnh viêm loét dạ dày thường đứng đầu trong các bệnh về đường tiêu hóa (với tỷ lệ khoảng 26 %) và có chiều hướng ngày càng gia tăng. Theo Niên giám thống kê của Bộ Y tế năm 2013, tỷ lệ người mắc viêm dạ dày, ruột non có nguồn gốc nhiễm khuẩn là 243,3/100. Đây là một trong 10 bệnh có tỷ lệ người mắc cao nhất (Bảng 1.
Năm 2012, Việt Nam là nước có số trường hợp mắc mới, tử vong do ung thư dạ dày cao thứ 9 trên thế giới, cao nhất trong khu vực Đông Nam Á. Theo thống kê năm 2012, Việt Nam có 14.203 trường hợp mắc ung thư dạ dày, gần 70 % số trường hợp là nam giới (9.591 ca tử vong, tỷ lệ tử vong cao thứ 3 sau các bệnh lý về gan (15.995 ca) và phổi (14. Phạm Thị 4 K22 Cao học sinh Luận văn thạc sĩ khoa Bảng 1. Tỷ lệ các bệnh hay mắc phải ở Việt Nam năm 2013 [1] Tỷ lệ mắc STT Tên bệnh bệnh (Trên 100.000 ngƣời) 1 Các bệnh viêm phổi 470,0 2 Viêm họng và viêm amidan cấp 396,7 3 Tăng huyết áp nguyên phát 359,3 4 Các tổn thương khác do chấn thương xác định ở nhiều nơi 357,0 5 Viêm phế quản và viêm tiểu phế quản 289,2 6 Tiêu chảy, viêm dạ dày, ruột non có nguồn gốc nhiễm 243,3 khuẩn 7 Viêm dạ dày và tá tràng 211,6 8 Bệnh virut khác 182,9 9 Sốt virut khác do tiết túc truyền và sốt virut xuất huyết 170,5 10 Bệnh khác của cột sống 168,8 Các số liệu trên cho thấy, bệnh dạ dày là căn bệnh rất phổ biến với những biến chứng nguy hiểm như ung thư dạ dày với tỷ lệ tử vong cao trên thế giới cũng như ở Việt Nam.
Nguyên nhân và chẩn đoán viêm loét dạ dày 1. Nguyên nhân Trong nhiều năm, acid dư thừa được cho là nguyên nhân chính của bệnh loét dạ dày-tá tràng. Tuy nhiên, gần đây các nghiên cứu chỉ ra rằng tác nhân gây bệnh chủ yếu là vi khuẩn và hóa chất (thuốc kháng viêm không chứa steroid-NSAID). Ngoài ra, một số yếu tố như cuộc sống căng thẳng, các tác nhân gây ô nhiễm môi trường như khói thuốc lá cũng góp phần gây viêm loét.
Tác nhân vi khuẩn: Hệ tiêu hóa của người có rất nhiều loại vi khuẩn khác nhau. Năm 2003, Bondarenko công bố ngoài H. pylori, nấm thuộc chi Candida, Streptococcus, trong dạ dày người còn có Bacillus, Lactobacillus [31]. Tuy nhiên, nhiễm vi khuẩn H.
pylori là một trong những nhiễm khuẩn thường gặp nhất ở người, dù tỷ lệ thay đổi khá lớn và tỷ lệ nghịch với mức độ phát triển kinh tế. Từ khi được phát hiện ra, H. pylori được công Phạm Thị 5 K22 Cao học sinh Luận văn thạc sĩ khoa nhận là tác nhân hàng đầu của một số bệnh đường tiêu hóa trên như loét dạ dày-tá tràng, ung thư biểu mô tuyến dạ dày và lymphoma tế bào B nguyên phát ở dạ dày [68]. pylori được Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC) xếp loại là tác nhân gây ung thư số 1 [8].
Tác nhân hóa chất: Tỷ lệ viêm loét ở người sử dụng NSAID mãn tính là khoảng 20 %, trong khi những người không dùng thuốc là 5 %. Một số thuốc giảm đau thông thường như aspirin, ibuprofen và naproxen đã được chứng minh có khả năng gây viêm dạ dày cấp và mãn tính. Dù chỉ sử dụng liều thấp (0,3-1 g) nhóm thuốc này cũng có tác động đến việc phá hủy yếu tố bảo vệ dẫn tới viêm loét dạ dày. Khả năng bị viêm loét do sử dụng NSAID tăng khi bệnh nhân trên 60 tuổi, có tiền sử mắc bệnh dạ dày hoặc sử dụng thuốc NSAID liều cao, bị nhiễm H.
pylori hoặc đồng thời sử dụng thuốc kháng corticosteroid [65]. Yếu tố khác (khói thuốc lá, ăn uống, ô nhiễm môi trường): Theo Kurata và cs (1997), 23 % bệnh nhân viêm loét dạ dày do sử dụng thuốc lá [52]. Thuốc lá làm tăng nguy cơ xuất hiện các ổ loét mới và làm chậm sự lành sẹo hoặc gây đề kháng với điều trị. Đến nay, cơ chế gây loét của thuốc lá vẫn chưa được biết rõ.
Có nhiều nghiên cứu cho rằng thói quen ăn uống vội vàng, vừa ăn vừa xem tivi hoặc đọc sách khiến dạ dày phải làm việc, tiết acid quá mức làm niêm mạc dạ dày bị ăn mòn, lâu dần dẫn đến viêm loét và một số bệnh khác. Chẩn đoán bệnh viêm loét dạ dày Bệnh nhân viêm loét dạ dày không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng cụ thể, thường gặp nhất là cơn đau âm ỉ vùng thượng vị nhưng không có tính chất chu kì.