Chương 1: Những vấn đề chung và thực tiễn hoạt động của Các công ty xuyên quốc gia Chương 2: Quá trình thâm nhập của các Công ty xuyên quốc gia vào Việt Nam và một số vấn đề đặt ra Chương 3: Một số giải pháp khai thác có hiệu quả sự thâm nhập của các Công ty xuyên quốc gia nhằm thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển trong thời gian tới 9 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VÀ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA 1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA 1.Bản chất Công ty xuyên quốc gia. * Các quan niệm về Công ty xuyên quốc gia Trong các tài liệu về công ty xuyên quốc gia, có nhiều thuật ngữ được sử dụng như: công ty quốc tế (International Enterprise/Firm), công ty đa quốc gia (Multinational Corporations/Enterprises – MNCs/MNEs), công ty xuyên quốc gia (Transnational Corporations - TNCs), gần đây lại xuất hiện thuật ngữ công ty toàn cầu (Global Firm). Vậy giữa các thuật ngữ này có gì khác biệt? thuật ngữ nào được sử dụng là hợp lý nhất ? Trong những năm 60 của thế kỷ XX, thuật ngữ công ty quốc tế (International Enterprise/Firm) và công ty đa quốc gia (MNEs) được sử dụng với ý nghĩa như nhau, nhưng thuật ngữ công ty quốc tế được sử dụng phổ biến.
Các thuật ngữ này nói đến sự lớn mạnh của công ty đã vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia và có hoạt động sản xuất kinh doanh ở nhiều nước trên thế giới. Mặc dù hai thuật ngữ trên có ý nghĩa như nhau, nhưng xét ở cách tiếp cận, thuật ngữ thứ nhất xem xét công ty từ giác độ kinh doanh quốc tế; trong khi, thuật ngữ thứ hai đề cập đến tính sở hữu đa quốc gia của công ty. Đến đầu thập kỷ 70, thuật ngữ công ty đa quốc gia (MNEs) được sử dụng nhiều hơn thuật ngữ công ty quốc tế và có ý nghĩa phân biệt với khái niệm “công ty quốc tế”. Trong thời kỳ này, cơ cấu tổ chức và hoạt động của MNEs chuyển sang cơ chế phi tập trung, đa doanh hơn trước.
Quá trình ra quyết định các hoạt động của công ty không còn độc quyền từ một chủ sở hữu chính quốc, mà người nước ngoài cũng được tham gia quản lý thông qua các chi nhánh ở nước họ. Hơn nữa, họ có quyền điều chỉnh tỷ lệ góp vốn, ra quyết định hình thức hợp tác đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với MNEs của nước chủ sở hữu. Bởi vậy, cơ cấu tổ chức và hoạt động của MNEs không chỉ có tính 1 quốc tế mà còn mang đậm nét đa quốc gia. Tuy nhiên, các tiêu chí để nhận diện một công ty đa quốc gia (MNEs) còn chưa thống nhất giữa các học giả.
Các học giả Mỹ thường căn cứ vào phạm vi kiểm soát và quản lý các hoạt động sản xuất ít nhất từ hai nước trở lên; hơn nữa, họ nhấn mạnh đến mức độ kiểm soát và quản lý trực tiếp các hoạt động của công ty ở nước ngoài. Một số học giả khác lại nhấn mạnh về đặc điểm quy mô tài sản của công ty phải đạt đến mức 100 triệu USD (Raymond Vernon, 1971) hoặc được xếp vào danh sách 500 công ty lớn nhất về tài sản trên thế giới được công bố hàng năm mới được gọi là MNEs. Có tài liệu còn dựa trên tiêu chuẩn như số lao động sử dụng ở nước ngoài hoặc tỷ lệ tài sản ở nước ngoài trên tổng giá trị tài sản công ty. Đến cuối thập kỷ 80, do sự nới lỏng các quy chế đầu tư nước ngoài ở các nước đang phát triển và xu hướng tự do hoá thị trường vốn quốc tế, MNEs đã tăng trưởng mạnh mẽ.
Trào lưu các công ty mẹ (parent firms) mở rộng chi nhánh ra nhiều nước (transnationals) đã trở thành đặc điểm nổi bật những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ trước. Bởi vậy, thuật ngữ công ty xuyên quốc gia (TNCs) được sử dụng rộng rãi. Năm 2003, Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) đã đưa ra định nghĩa chung như sau: TNCs là các công ty liên doanh hoặc độc lập bao gồm các công ty mẹ và các chi nhánh nước ngoài của chúng. Công ty mẹ là công ty thực hiện quyền kiểm soát toàn bộ tài sản của các thực thể kinh tế khác ở nước ngoài thuộc quyền quản lý của chúng thông qua hình thức sở hữu vốn tư bản cổ phần.
Có tỷ lệ góp vốn cổ phần là 10% so với cổ phần gốc hoặc cao hơn, hay mức cổ phần khống chế đối với các công ty liên doanh, hoặc tương ứng đối với các công ty độc lập, thường được xem là ngưỡng để giành quyền kiểm soát tài sản của các công ty khác. Trước xu thế toàn cầu hoá phát triển mạnh mẽ, nhiều quốc gia đã mở cửa thu hút TNCs; các hoạt động của TNCs không còn giới hạn ở số ít lĩnh vực chuyên doanh mà đã chuyển sang đa doanh, có phạm vi ảnh hưởng toàn cầu. Bởi thế, đã xuất hiện thuật ngữ công ty toàn cầu. Thực ra, thuật ngữ này 1 chỉ phản ánh đặc điểm của TNCs trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, còn về bản chất và định nghĩa vẫn không có sự khác nhau đáng kể.
Như vậy, việc nghiên cứu các quan niệm trên có thể đi đến hai nhận xét quan trọng: Thứ nhất, về bản chất, các thuật ngữ về TNCs không có gì khác biệt đáng kể. Điểm chung khi nói về TNCs là quy mô lớn, sở hữu đa quốc gia và kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh ở nhiều nước. Sự khác biệt chủ yếu là tên gọi, để phản ánh đặc điểm nổi bật của TNCs trong từng giai đoạn lịch sử phát triển hoặc do thói quen sử dụng từ ngữ của các học giả. Thứ hai, khó có thể đưa ra định nghĩa chính xác về TNCs, nhưng tựu chung, nội hàm các khái niệm đều thống nhất với nhau ở điểm: TNCs trước hết là công ty lớn phát triển theo xu hướng độc quyền, có phạm vi hoạt động vượt ra ngoài khuôn khổ biên giới quốc gia của một nước và có quan hệ chặt chẽ với nhiều nước thông qua việc mở chi nhánh ở nước ngoài.
* Bản chất của Công ty xuyên quốc gia Xét về cả logic và lịch sử, sự ra đời của TNCs trên thế giới gắn liền với sự ra đời và phát triển của sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa (TBCN). Chúng là kết quả sự phát triển cao của chế độ xí nghiệp TBCN, là sự vận động mở rộng và sâu sắc hơn các mối quan hệ sản xuất TBCN, khi các mối quan hệ đó vượt dần ra khỏi phạm vi quốc gia, nhập vào guồng máy sản xuất kinh doanh quốc tế. Bản chất của TNCs là sự tập trung tư bản rất cao trong tay một số công ty có tư cách pháp nhân hoạt động ở nhiều quốc gia nhằm chi phối nền kinh tế toàn cầu bằng cách luôn sản xuất ra khối lượng hàng hoá và dịch vụ ngày càng lớn với công nghệ công nghệ và kỹ thuật mới để thu lợi nhuận độc quyền. Điều đó phản ánh tính chất gay gắt của cạnh tranh và cũng là nguyên nhân làm các công ty này không ngừng đổi mới để lớn mạnh.
Nguồn gốc hình thành của Công ty xuyên quốc gia Khi CNTB chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền thì quá trình tích tụ và tập trung tư bản diễn ra mạnh mẽ. Trong lĩnh vực 1 sản xuất, cạnh tranh giữa các xí nghiệp có quy mô vừa và nhỏ đã dẫn tới sự phá sản của số lượng lớn xí nghiệp; số còn lại, hoặc bị thôn tính, hoặc phải chọn giải pháp liên kết hay sáp nhập (Merger and Acquisition – M&A) để trở thành xí nghiệp lớn hơn. Tích tụ tư bản gắn liền với sự xuất hiện các hình thức tín dụng, kéo theo là sự ra đời loại hình công ty cổ phần đã thúc đẩy quá trình tập trung tư bản.Mác, đây là cơ sở cho việc chuyển hoá dần những xí nghiệp tư bản tư nhân thành những công ty cổ phần, là phương tiện để mở rộng quy mô hợp tác giữa các xí nghiệp, là nhân tố quan trọng đẩy nhanh tốc độ phát triển của lực lượng sản xuất vật chất và sự hình thành thị trường thế giới. Như vậy, loại hình công ty cổ phần và sự liên kết giữa các xí nghiệp đã tạo ra cơ sở để tự do cạnh tranh chuyển thành độc quyền.
Tiến trình này không chỉ phản ánh sự chuyển hoá những thuộc tính cơ bản trong quan hệ sản xuất TBCN sang mặt đối lập của nó, mà còn khẳng định nền sản xuất TBCN chắc chắn sẽ vận động sang nấc thang mới cao hơn, với hình thức tổ chức tiến bộ hơn. Nhưng độc quyền TBCN sống chung cùng cạnh tranh, dựa vào cạnh tranh để tồn tại, hoàn thiện và phát triển. Đó là lôgíc vận động hiện thực của nền sản xuất TBCN. Kế thừa và phát triển học thuyết của C.Ănghen, trong quá trình nghiên cứu sự phát triển của CNTB ở cuối thế kỷ XIX, V.Lênin đã rút ra kết luận: Việc tập trung sản xuất đẻ ra các tổ chức độc quyền là một quy luật phổ biến và cơ bản trong giai đoạn hiện nay của CNTB.
Các nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy, xí nghiệp độc quyền được hình thành nhờ sự kết hợp giữa quá trình sản xuất quy mô lớn và quá trình phân phối quy mô quốc tế vào một công ty đơn nhất, nghĩa là trong xí nghiệp bao gồm cả hoạt động sản xuất công nghiệp, thương mại, dịch vụ, tài chính…để hình thành nên xí nghiệp công thương hiện đại qua các mối liên hệ dọc - ngang. Xí nghiệp liên kết theo chiều dọc thường là những xí nghiệp theo ngành dọc của mình. Xí nghiệp liên kết theo chiều ngang phần lớn là các xí nghiệp thuộc các ngành khác nhau. Sự liên kết theo chiều dọc là con đường cơ bản hình thành nên xí nghiệp hiện đại.
Mối liên kết này là một hình thức sáng tạo về chế độ hoạt động của xí nghiệp. Khi phạm vi địa lý của phân 1 công nội bộ xí nghiệp 1 công thương hiện đại vượt khỏi biên giới quốc gia, thì TNCs hình thành. Từ thập niên 80 của thế kỷ XX trở lại đây, dưới tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ và làn sóng toàn cầu hoá kinh tế, TNCs đã thâm nhập nhanh vào hầu hết các lĩnh vực kinh tế mới, khẳng định thêm vai trò quan trọng của chúng đối với nền kinh tế thế giới nói chung, cũng như kinh tế khu vực và từng quốc gia nói riêng. Đồng thời, phạm vi cạnh tranh toàn cầu giữa TNCs lại khốc liệt hơn.