MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nhật Bản là đất nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới. Đất nước này nổi tiếng với các mặt hàng điện tử, tiêu dùng. chất lượng tốt.
Có thể nói, thương hiệu “Made in Japan” đã chinh phục được cả những người tiêu dùng khó tính nhất trên thế giới. Ngày nay, để đáp ứng nhu cầu trong nước cũng như quốc tế, Nhật Bản không ngừng đầu tư, mở rộng thị trường ra nước ngoài, tiến hành hợp tác giao lưu kinh tế với các nước trong và ngoài khu vực, trong đó có Việt Nam. Ngược lại, Việt Nam lại là nước đang trên đường phát triển, đã tiến hành các chính sách mở cửa, giao thương, thu hút đầu tư nước ngoài. Thị trường Việt Nam được đánh giá là một thị trường mở, đầy tiềm năng với nguồn lao động dồi dào, thị trường tiêu thụ lớn.
Chất lượng cuộc sống của người dân ngày càng tăng, nhu cầu sử dụng hàng có chất lượng ngày một lớn. Tuy nhiên, dòng sản phẩm chất lượng cao thường phải nhập khẩu từ nước ngoài vì các doanh nghiệp trong nước chưa đủ sức tạo ra những sản phẩm đó. Thực tế cho thấy, các công ty nước ngoài, đặc biệt là Nhật Bản đã liên tiếp đầu tư vào Việt Nam và hình thành nên các chuỗi cung ứng liên kết chặt chẽ với nhau. Điều này đã mở ra nhiều cơ hội, đồng thời cũng mang đến nhiều thách thức cho các doanh nghiệp của Việt Nam.
Vậy, sau khi Nhật Bản đầu tư vào Việt Nam, các doanh nghiệp Việt Nam đã tham gia vào chuỗi cung ứng của Nhật Bản thế nào; điều này đã mang đến những cơ hội và thách thức gì, chính là vấn đề mà đề tài muốn tìm hiểu. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 2.1 Mục đích nghiên cứu - Tìm hiểu hiện trạng gia nhập chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp Nhật của doanh nghiệp Việt Nam 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Làm rõ những cơ hội, thách thức của doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào chuỗi cung ứng Nhật Bản - Đề xuất các giải pháp để doanh nghiệp Việt Nam có thể gia nhập chuỗi cung ứng 2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu - Tìm hiểu về các ngành nghề của doanh nghiệp có thể tham gia vào chuỗi cung ứng - Tìm hiểu thực trạng một số doanh nghiệp Việt Nam đã tham gia vào chuỗi cung ứng Nhật Bản 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 3.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu cơ bản của luận văn là doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng của Nhật Bản tại thị trường Việt Nam.2 Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu trong khuôn khổ các doanh nghiệp Việt Nam có tham gia vào chuỗi cung ứng Nhật Bản tại Việt Nam. - Phạm vi thời gian: Lý do chúng tôi lựa chọn khoảng thời gian khảo sát từ năm 2005 đến nay như sau: Từ năm 2004, đánh dấu bằng việc kí kết Hiệp định kí kết và bảo hộ đầu tư (12/2004), Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA – 10/2009) đã tạo khuôn khổ pháp lí thuận lợi cho phát triển kinh tế thương mại giữa hai nước, Nhật Bản là đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam và là nước G7 đầu tiên công nhận quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam (tháng 10/2011).Tháng 3/2014, hai nước nâng cấp quan hệ lên thành “Đối tác chiến lược sâu rộng vì hòa bình và phồn vinh ở Châu Á”.
Việc Nhật Bản tăng cường đầu tư vào Việt Nam, cùng với đó là việc các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng của Nhật Bản đã góp một ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển quan hệ kinh tế, thương 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mại, đầu tư giữa hai quốc gia. Trong khi đó, rất ít công trình nghiên cứu đề cập trực diện và làm rõ vấn đề này. + Trong suốt từ năm 2004 đến nay, thị trường Việt Nam có nhiều biến đổi, chứng kiến những bước tiến vượt bậc trong quan hệ kinh tế, thương mại quốc tế. Vấn đề chuỗi cung ứng trên thị trường Việt Nam cũng đặt ra những cơ hội cùng với những nguy cơ, thách thức.
Việc tích cực tham gia vào chuỗi cung ứng của đã tạo ra môi trường năng động 4. Lịch sử nghiên cứu Chuỗi cung ứng, phát triển công nghiệp hỗ trợ để tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu là những vấn đề đã nhận được sự quan tâm của rất nhiều học giả, nhà nghiên cứu như: - Những nghiên cứu của Junichi Mori – Kenichi Ohno về “Chiến lược cung ứng tối ưu: Các yếu tố quyết định về nội địa hoá phụ tùng theo khu vực liên kết và cạnh tranh” - Các bài báo cáo của Diễn đàn Phát triển Việt Nam do các học giả Nhật Bản cùng thực hiện như “Xây dựng và tăng cường các ngành công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam. Báo cáo điều tra Cải thiện chính sách công nghiệp” của Kyoshiro Ichikawa (năm 2005) - Báo cáo điều tra xác nhận, thu thập thông tin cơ bản liên quan đến tăng cường năng lực, khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm phát triển Công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam được phát hành bởi Cơ quan Hợp tác Quốc tế JICA Trên cơ sở tham khảo các công trình nghiên cứu kể trên, tác giả luận văn nhận thấy, các nghiên cứu đã đưa ra những yếu kém của ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam, cùng với đó là mối quan hệ tương quan khăng khít giữa công nghiệp hỗ trợ và chuỗi cung ứng. Đặc biệt trong bối cảnh quan hệ Việt Nam – Nhật Bản ngày càng phát triển, các doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư vào Việt 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nam ngày càng nhiều, hình thành nên các chuỗi cung ứng tại Việt Nam, tác giả mong muốn tập trung nghiên cứu vào hiện trạng tham gia chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp Việt Nam cho các doanh nghiệp Nhật Bản.
Phƣơng pháp nghiên cứu - Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu: Từ những số liệu, biểu đồ để đưa ra nhận xét, đánh giá khách quan nhất về quy mô, mức độ tham gia, chính sách đầu tư của các doanh nghiệp Nhật Bản, đồng thời mức độ đáp ứng của các doanh nghiệp Việt Nam. - Phương pháp so sánh để nhìn nhận những khác biệt – đồng nhất giữa quan niệm, cách thức vận hành của chuỗi cung ứng Nhật Bản tại Việt Nam so với các nước khác và các chuỗi cung ứng khác. Ý nghĩa của luận văn 6. Ý nghĩa lý luận của luận văn - Hiểu được khái niệm và mô hình chuỗi cung ứng.
Từ đó, đưa ra được chính sách chiến lược phát triển hợp tác kinh tế với Nhật Bản. - Thấy được vai trò của chuỗi cung ứng để có thể có những biện pháp chính sách phù hợp trong việc phát triển, tạo điều kiện để các doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp Nhật Bản. Ý nghĩa thực tiễn luận văn - Từ việc hiểu chuỗi cung ứng và chính sách hợp tác đầu tư của Nhật Bản, có thể đưa ra những giải pháp cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp Nhật Bản, phù hợp với chính sách chiến lược của Nhật Bản lại vừa tương thích với điều kiện tự nhiên, xã hội của Việt Nam. - Hiểu được tầm quan trọng của chuỗi cung ứng nước ngoài trong giai đoạn phát triển kinh tế hiện tại, đưa ra những biện pháp phù hợp để tăng cạnh tranh, đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu sản xuất trong nước và quốc tế.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Kết cấu Chƣơng 1: Tổng quan về chuỗi cung ứng và công nghiệp hỗ trợ 1.1 Tổng quan về chuỗi cung ứng 1.2 Tổng quan về công nghiệp hỗ trợ Chƣơng 2: Thực trạng tham gia chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp Nhật Bản của doanh nghiệp Việt Nam từ năm 2005 đến nay 2.1 Sự hình thành và phát triển của chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam 2.2 Thực trạng đầu tư trực tiếp FDI của Nhật Bản vào Việt Nam từ 2005 đến nay 2.3 Những vấn đề đặt ra đối với việc cung ứng cho các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam từ 2005 đến nay Chƣơng 3: Cơ hội, thách thức , giải pháp cho các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào chuỗi cung ứng các doanh nghiệp Nhật Bản 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG VÀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 1. TỔNG QUAN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG 1. Sự ra đời và lịch sử phát triển của khái niệm “chuỗi cung ứng” Vào khoảng những năm đầu của thế kỉ XX, việc thiết kế, phát triển sản phẩm mới diễn ra rất chậm chạp, chủ yếu phụ thuộc vào công nghệ và nguồn lực nội bộ.
Để quy trình sản xuất không bị gián đoạn, máy móc vận hành thông suốt, các xí nghiệp buộc phải sản xuất liên tục tất cả những linh phụ kiện hay chi tiết nhỏ nhất trong sản phẩm. Điều này dẫn đến tồn kho trong sản xuất đột nhiên tăng vọt. Chia sẻ công nghệ và chuyên môn để cải tiến kĩ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm giữa nhà cung cấp và xí nghiệp là một thuật ngữ ít được nhắc đến lúc bấy giờ. Sản xuất chỉ dừng lại trong quy mô một xí nghiệp nhỏ lẻ, theo hình thức “tự cung tự cấp”.
Đến những năm 1960, phong trào khoa học kĩ thuật hiện đại bùng nổ, từ đó góp phần định hướng khoa học trong sự phát triển của công nghệ và sức sản xuất. Do ảnh hưởng của phong trào này, các công ty lớn trên thế giới đã áp dụng công nghệ sản xuất hàng loạt để cắt giảm chi phí và cải tiến năng suất, nhưng phần lớn vẫn chưa chú trọng đến cắt giảm tồn kho, liên kết với các nhà cung cấp. Vào khoảng những năm 1970, Hệ thống hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu (MRP-Material Requirements Planning) và Hệ thống hoạch định nguồn nhân lực sản xuất (ERP-Enterprise ResourcePlanning ) đã ra đời. Nhờ có những hệ thống này mà doanh nghiệp có thể kiểm soát được đầu vào của nguyên vật liệu, đánh giá được mức độ tồn kho trong sản xuất, kiểm soát lưu trữ và vận chuyển hàng hoá một cách linh hoạt.
Đồng thời, cùng với sự phát triển của thông tin, đặc biệt là sự ra đời của máy tính đã giúp đơn giản hoá hiệu quả việc kiểm soát tồn kho. Nhờ vậy, chi phí tồn kho được giảm đáng kể 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong khi vẫn có thể đảm bảo được nguồn cung cấp đầu vào cũng như đáp ứng nhu cầu đầu ra.