Chương 1: Giới thiệu đề tài: Trình bày lý do tác giả chọn đề tài, bối cảnh nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đưa ra câu hỏi nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu. - Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu: Trình bày tổng quan về cơ sở lý thuyết, định nghĩa các khái niệm về sự tham gia của người dân, đổi mới, tư duy thiết kế, đóng góp từ công dân, đóng góp từ đám đông, chính phủ mở và các nghiên cứu có liên quan. - Chương 3: Thiết kế nghiên cứu: Trình bày về quy trình nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu, cách chọn mẫu, xây dựng thang đo và phương pháp phân tích dữ liệu. - Chương 4: Phân tích dữ liệu và bình luận: Trình bày kết quả về phân tích độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố khám phá, phân tích tương quan và phân tích hồi quy tuyến tính để khẳng định mối quan hệ các biến.
- Chương 5: Kết luận và khuyến nghị: Trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu, nêu những hạn chế của nghiên cứu và trình bày đóng góp của nghiên cứu trong thực tiễn công tác quản lý công. Ngoài ra, Chương kết luận cũng đưa ra hướng nghiên cứu kế tiếp từ nghiên cứu này. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Chƣơng 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 nhằm mục đích hệ thống các cơ sở lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu.
Chương này gồm có 02 phần: (1) Các khái niệm và nghiên cứu trước đây về sự tham gia của người dân, dân chủ, đổi mới, tư duy thiết kế, đóng góp từ công dân, đóng góp từ đám đông, chính phủ mở; (2) Mô hình nghiên cứu công dân tham gia quản trị nhà nước. Các khái niệm, nghiên cứu trƣớc đây 2. Dân chủ tham gia tại Việt Nam Nhà nước Việt Nam với khẩu hiệu xây dựng “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Trên cơ sở đó, Nhà nước tập trung bàn nhiều giải pháp để bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và phát huy dân chủ cơ sở.
Mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chủ trương của địa phương phải xuất phát từ tâm tư, nguyên vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Dân chủ phải được đảm bảo thực hiện nghiêm túc, đầy đủ trên tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội. Nhân dân phải tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra quyết định, từ nêu ý kiến, tham gia đóng góp thảo luận, đến giám sát quá trình thực hiện quyết định. Thể chế hóa và thực hiện tốt phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” (Đảng Cộng Sản Việt Nam, 2016).
Bên cạnh đó, Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về thực hiện dân chủ cơ sở ở xã, phường, thị trấn đã quy định rõ ràng những nội dung cụ thể thuộc trách nhiệm của chính quyền, cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) liên quan đến việc để nhân dân biết, nhân dân bàn, nhân dân quyết định và nhân dân giám sát. Qua đó, Nhà nước bảo đảm trật tự, kỷ cương, trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm quyền của nhân dân được biết, tham gia ý kiến, quyết định, thực hiện và giám sát việc thực hiện dân chủ ở cấp xã; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; công khai, minh bạch trong quá trình thực hiện dân chủ ở cấp xã; và bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Theo một nghiên cứu về sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới tại thị xã Long Khánh, Đồng Nai, tác giả Trần Quang Châu, năm 2016, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra thành công của Chương trình Xây dựng Nông thôn mới là có sự đóng góp của các tổ chức tôn giáo trên địa bàn, cũng như sự góp sức của người dân trong việc huy động nguồn lực để thực hiện Chương trình. Dân chủ phải được tăng cường từ các góc độ như: Dân biết, Dân bàn, Dân đóng góp, Dân làm, Dân kiểm tra, Dân giám sát và Dân sử dụng, Dân quản lý và Dân hưởng lợi sẽ có những ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi và lợi ích của người dân, người dân tham gia một cách tích cực, nhiệt tình, chủ động và tự nguyện.
Nói chung, bản chất của Nhà nước là Nhà nước của Dân, do Dân và vì Dân. Vì vậy, khi Nhà nước muốn thực hiện những nội dung gì liên quan đến cộng đồng, liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân thì Nhân dân phải “được biết, được bàn, được làm, được giám sát và được kiểm tra”. Có như vậy, Nhà nước mới đúng là công bộc của Nhân dân, vì Nhân dân mà phục vụ. Sự tham gia của ngƣời dân Tham gia là sự can dự của người dân trong tiến trình ra quyết định, trong thực hiện chương trình, chia sẻ quyền lực của các chương trình phát triển (Cohen và Uphoff, 1977).
Sự tham gia cũng là một quá trình trong đó các cá nhân tham gia vào việc ra quyết định trong các tổ chức, chương trình và môi trường ảnh hưởng đến họ (Florin và Wandersman, 1990). (1996) thì sự tham gia của cộng đồng không chỉ là một phương tiện để người dân có thể tác động đến các quyết định trên chính trường về các vấn đề ảnh hưởng đến họ mà còn là một phương tiện để đạt được lợi ích cộng đồng, cá nhân thông qua các sáng kiến hỗ trợ lẫn nhau và có thể với sự trợ giúp từ bên ngoài là Chính phủ hoặc các tổ chức phi Chính phủ. Còn sự can thiệp là một quá trình gồm nhiều bước trong suốt toàn bộ quá trình, trong đó các tương tác với những người sử dụng đối với một nhân tạo phức TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 tạp là cần thiết để bỏ đi các thiết kế tồi và phát triển sự tự tin đối với sự thành công của những thiết kế tốt (Brown, Martin, 2015). Theo ADB, (2003) thì bên cạnh những lợi ích về mặt quản lý, sự tham gia có thể có nhiều lợi ích như sau: Nâng cao tính bền vững của chương trình và khả năng thu hồi chi phí; tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động nguồn lực, khuyến khích cộng đồng đóng góp lao động và vật chất; các lợi ích có thể được phân chia bình đẳng hơn, mặc dù vẫn có nguy cơ bị tước đoạt bởi các lợi ích cục bộ; có thể giảm thiểu những rào cản thông tin giữa cơ quan chính phủ và nhân dân, đem lại những thông tin phản hồi hữu ích của người sử dụng dịch vụ công cộng; có thể giúp làm tăng việc sử dụng hàng hóa công cộng; một số thiết kế cộng đồng được phát triển trong quá trình thiết kế và thực hiện dự án có thể tiếp tục phát huy tác dụng, ngay cả sau khi dự án đã hoàn thành; nâng cao khả năng thiết kế dự án bằng cách cho phép những người thiết kế dự án sử dụng tối đa kiến thức về điều kiện kỹ thuật của địa phương và những điều kiện khác, làm cho dự án thích nghi với tổ chức xã hội; tránh được những hậu quả xấu của việc không tham khảo ý kiến của những người thụ hưởng từ dự án.
Theo nghiên cứu của Arnstein, (1969) thì sự tham gia của người dân có 08 mức độ phân chia từ cao đến thấp (Hình 2.1) và mô tả cụ thể như sau: * Mức độ người dân không tham gia (Nonpaticipation): (1) Bị điều khiển (Manipulation): Người dân bị thuyết phục theo mọi ý kiến của chính quyền, mọi việc đều do chính quyền thực hiện bằng cách thuê bên ngoài, người dân không tham gia vào bất kỳ khâu nào của quá trình ra quyết định, các phản ứng, ý kiến của người dân không được chính quyền tôn trọng. (2) Liệu pháp (Therapy): Vấn đề của người dân đã được xem xét bởi đại diện của chính quyền, người dân làm theo ý của người đại diện mà không hiểu biết những việc mình đang làm. * Mức độ người dân tham gia mang tính hình thức (Tokenism): (3) Thông tin (Informing): Người dân được thông tin về chương trình, tuy nhiên đó là thường là thông tin một chiều, người dân chỉ trả lời câu hỏi mà chính TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 quyền đưa ra mà không được phản hồi, đối thoại và không tham gia vào phân tích hay sử dụng thông tin mình đưa ra. (4) Tham vấn (Consultation): Chính quyền tổ chức khảo sát thái độ của người dân, tổ chức các cuộc họp và lấy ý kiến của cộng đồng, người dân sẽ trả lời câu hỏi khảo sát và tham gia ý kiến.
Những ý kiến này chỉ dùng để tham khảo, họ không được ra quyết định. Thông thường đây chỉ là nghi thức. (5) Động viên (Placation): Người dân thể hiện quyền lực bằng cách bầu ra một ủy ban đại diện để thực hiện chương trình hoặc ghi nhận, lắng nghe những ý kiến đóng góp của người dân. * Người dân được trao quyền (Citizen control): (6) Hợp tác (Partnership): Có sự dàn xếp để chia sẻ quyền lực và trách nhiệm giữa các bên có liên quan.
Các bên có trách nhiệm trong việc lên kế hoạch và ra quyết định trong quá trình thực hiện công việc. (7) Ủy quyền (Delegated power): Người dân nắm đa số các vị trí trong ủy ban và có quyền quyết định cao hơn các bên có liên quan khác thông qua việc đàm phán và người dân phải tự chịu trách nhiệm trong các quyết định của mình. (8) Người dân kiểm soát (Citizen control): Người dân khởi xướng công việc để giải quyết nhu cầu của họ, đồng thời huy động nguồn lực để thực hiện. Như vậy, người dân thực hiện toàn bộ công việc lập kế hoạch, hoạch định chính sách và quản lý chương trình.
8 Người dân kiểm soát 7 Ủy quyền Người dân kiểm soát 6 Hợp tác 5 Động viên Tham gia 4 Tham vấn mang tính hình thức 3 Thông tin 2 Liệu pháp Không tham gia 1 Bị điều khiển Hình 2. Các mức độ tham gia của ngƣời dân. Nguồn: Tác giả vẽ dựa trên mô tả thang đo của Sherry R. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 Theo một nghiên cứu khác của Heimans và Timms (2014) cũng đã đưa ra 06 mức độ tham gia của người dân (Hình 2.
Các mức độ tham gia của người dân. Đồng sở hữu Sản xuất Tài Trợ Định hình Chia sẻ Tiêu thụ Hình 2. Các mức độ tham gia của ngƣời dân. Nguồn: Tác giả vẽ dựa trên mô tả thang đo của người dân theo Jeremy Heimans và Henry Timms (2014).