Chương 1: Cơ sở lí luận về đánh giá tác động của cộng đồng trong giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông 1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Vận dụng thuyết hành vi của E.Thorndike trong giáo dục nhằm hình thành và hoàn thiện nhân cách bằng cách đặt người học vào các điều kiện nhất định với những nội dung giáo dục có qui trình chặt chẽ để từ đó nhà giáo dục có thể quan sát , kiểm soát hoàn thiện nhân cách cho người học. Phương Đông, Khổng Tử (551-479-TCN ) trong các tác phẩm: “Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc Xuân Thu” rất xem trọng việc giáo dục đạo đức.
Hiroike Chikuro (1866-1938) – người khai sinh Moralogy (đạo đức học) tại Nhật Bản. Phương Tây, nhà triết học Socrat (470-399-TCN) đã cho rằng đạo đức và sự hiểu biết quy định lẫn nhau. Có được đạo đức là nhờ ở sự hiểu biết, do vậy chỉ sau khi có hiểu biết mới trở thành có đạo đức. Aristoste (384-322-TCN) cho rằng không phải hy vọng vào Thượng đế áp đặt để có người công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất mới tạo nên được con người hoàn thiện trong quan hệ đạo đức.
Trong tác phẩm “Chống Đuy- Rinh”, Ănghen đã chỉ ra mối quan hệ của các thời đại đối với các nguyên tắc, các chuẩn mực đạo đức với tính cách là biểu hiện về mặt đạo đức của các thời đại kinh tế. Qua đó , Ănghen khẳng định :“Cho tới nay, xã hội đã vận động trong những sự đối lập giai cấp, cho nên đạo đức cũng luôn luôn là đạo đức của giai cấp”. Các nghiên cứu ở trong nước Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Có tài mà không có đức thì là người vô dụng”. Người coi trọng mục tiêu, nội dung giáo dục đạo đức trong các nhà trường như: “Đoàn kết tốt”, “Kỷ luật tốt”, “Khiêm tốn, thật thà dũng cảm”, “Con người cần có bốn đức: cần - kiệm - liêm - chính, mà nếu thiếu một đức thì không thành người”.
Đây là một minh chứng cho việc giáo dục toàn diện con người mới trong thời đại ngày nay. 8 Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, không những được rất nhiều tác giả nước ta đã nghiên cứu về vấn đề này như: Phạm Minh Hạc, Hà Thế Ngữ, Nguyễn Đức Minh, Phạm Hoàng Gia, Phạm Tất Dong và nhiều tác giả khác mà còn được Đảng và Nhà Nước ta vận dụng đã và đang thực hiện trong quần chúng nhân dân nói chung cũng như ngành giáo dục nói riêng thông qua cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Nói chuyện tại Hội nghị cán bộ Đảng nghành giáo dục tháng 6/1957 , Bác Hồ căn dặn “Phải nhất thiết liên hệ mật thiết với gia đình học sinh. Bởi vì giáo dục trong nhà trường , chỉ là một phần , còn cần có giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn.
Giáo dục trong nhà trường dù tốt mấy nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn” Quan điểm chỉ đạo của Nghị Quyết 29-NQ/TW vế đổ mới căn bản , toàn diện giáo dục vá đào tạo đã tiếp tục khẳng định “Giáo dục nhà trường phải kết hợp với giáo dục gia đình và xã hội ”[32,6] GDĐĐ là khâu quan trọng nhất thuộc về các nhà trường, nhưng việc GDĐĐ muốn đạt kết quả tốt không thể không nói tới sự phối hợp giáo dục của gia đình và xã hội. Vì đạo đức được hình thành trong cuộc sống, hoạt động và giao tiếp với các thành viên khác trong xã hội. Song làm thế nào để nhà trường, gia đình và xã hội cùng đạt được mục đích trong GDĐĐ đó là vấn đề luôn được đặt ra cho các nhà quản lí. Vì vậy việc phối hợp ba lực lượng: Nhà trường, gia đình và xã hội nhằm nâng cao hiệu quả quản lí GDĐĐ cho học sinh đã trở thành đề tài nghiên cứu khoa học của các nhà giáo dục Việt nam.
Hiện tại đã có nhiều tác giả nghiên cứu về đạo đức và GDĐĐ như GS- TS Hà Thế Ngữ, GS-TS Đặng Vũ Hoạt đã đề cập đến vai trò, vị trí và ý nghĩa của GDĐĐ cho học sinh với giáo trình: Giáo dục học tập 1 và tập 2 - NXBGD - Hà Nội (1999). Các tác giả như GS Hoàng Đức Nhuận, GS-TS Phạm Minh Hạc đã nghiên cứu định hướng giá trị đạo đức con người Việt Nam trong thời kì Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước. PGS-TS Phạm Khắc Chương với đóng góp về lý luận đạo đức trong nhà trường hiện nay với tác phẩm: 9 Chỉ nam nhân cách học trò - NXBTN - Hà Nội (1998). “Đạo đức học” - NXBGD - Hà Nội (2000).
PGS-TS Đặng Quốc Bảo với: Một số ý kiến về nhân cách thế hệ trẻ, thanh niên, sinh viên và phương pháp giáo dục (Học viện QLGD - Hà Nội). TS Nguyễn Minh Đức (1990) về: Đổi mới quản lí giáo dục một số vấn đề lí luận và thực tiễn. Như vậy, GDĐĐ là yêu cầu khách quan của sự nghiệp "trồng người", nó giúp đào tạo ra thế hệ vừa "hồng" vừa "chuyên" nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Do vậy, việc nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lí hoạt động GDĐĐ trong mối quan hệ phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội ở trường THPT Vĩnh Long ; Thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ trong mối quan hệ phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội ở trường THPT Vĩnh Long để tìm ra những biện pháp quản lý phù hợp, có tính khả thi nhằm nâng cao kết quả GDĐĐ cho học sinh ở trường THPT Vĩnh Long trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết, nhất là khi việc nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ trong mối quan hệ phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội ở trường THPT là vấn đề hầu như còn chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức. Một số khái niệm cơ bản 1.
Đạo đức và giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông 1.1 Khái niệm Đạo đức là một hệ thống những quy tắc, những chuẩn mực mà qua đó con người tự nhận thức và điều chỉnh hành vi của mình vì hạnh phúc của cá nhân, lợi ích của tập thể và cộng đồng. Mục tiêu Chuyển hóa những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội thành những phẩm chất đạo đức nhân cách cho học sinh, hình thành ở học sinh thái độ đúng đắn trong giao tiếp, ý thức tự giác thực hiện các chuẩn mực của xã hội, thói quen chấp hành các quy định của pháp luật. Nội dung Lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu hoà bình, có tinh thần cộng đồng và quốc tế, có tinh thần lao động sáng tạo, có thái độ xây dựng và bảo vệ môi trường. Phương thức giáo dục Phương pháp tác động vào nhận thức tình cảm: đàm thoại, tranh luận, kể chuyện, giảng giải, khuyên răn; phương pháp tổ chức hoạt động thực tiễn: giao việc, rèn luyện, tập thói quen…; phương pháp kích thích tình cảm và hành vi: thi đua, nêu gương, khen thưởng, trách phạt… Qua đó , đạo đức được xem là khái niệm luân thường đạo lý của con người, nó thuộc về vấn đề tốt-xấu, hơn nữa xem như là đúng-sai, được sử dụng trong ba phạm vi: lương tâm con người, hệ thống phép tắc đạo đức và trừng phạt đôi lúc còn được gọi giá trị đạo đức; nó gắn với nền văn hoá, tôn giáo, chủ nghĩa nhân văn, triết học và những luật lệ của một xã hội về cách đối xử từ hệ thống này.
Triết học, đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội, bao gồm những nguyên lý, quy tắc, chuẩn mực điều tiết hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng. Căn cứ vào những quy tắc ấy, người ta đánh giá hành vi, phẩm giá của mỗi người bằng các quan niệm về thiện ác, chính nghĩa và phi nghĩa, nghĩa vụ, danh dự .[14,12] Đạo đức học, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội .[21,12] Giáo dục học, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống các quan niệm về cái thực, cái có trong mối quan hệ của con người với con người[7,170-171] Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chính trị, pháp luật, lối sống. Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt nhân cách của một cá nhân đã được xã hội hoá. Đạo đức được biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh, trong sáng, ở hành động giải quyết hợp lý, có hiệu quả những mâu thuẫn.
Khi thừa nhận đạo đức là một hình thái ý thức xã hội thì đạo đức 11 của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi tầng lớp giai cấp trong xã hội cũng phản ánh ý thức chính trị của họ đối với các vấn đề đang tồn tại .[14,153-154] Ngày nay, đạo đức được định nghĩa như sau: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội. Nó ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu của xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân và xã hội”. [14,12] Bản chất đạo đức là những qui tắc, những chuẩn mực trong quan hệ xã hội, nó được hình thành, tồn tại và phát triển trong cuộc sống, được xã hội thừa nhận và tự giác thực hiện. Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh những quan hệ xã hội được hình thành trên cơ sở kinh tế, xã hội.
Mỗi hình thái kinh tế hay mỗi giai đoạn đều có những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức tương ứng. Vì vậy, đạo đức có tính giai cấp, tính dân tộc và tính thời đại. Ngày nay trong nền kinh tế thị trường và sự hội nhập quốc tế, thì khái niệm đạo đức cũng có thay đổi theo tư duy và nhận thức mới. Tuy nhiên, không có nghĩa là các giá trị đạo đức cũ hoàn toàn mất đi, thay vào đó là các giá trị đạo đức mới.