Mức độ tham gia của cộng đồng dân cư trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Cờ Đỏ, Cần Thơ

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật phân tích mức độ tham gia của cộng đồng dân cư trong xây dựng nông thôn mới tại huyện cờ đỏ thành phố cần thơ, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế

2015

101
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỤC LỤC

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1. VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.2. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

1.3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.3.1. Mục tiêu tổng quát

1.3.2. Mục tiêu cụ thể

1.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.5. PHẠM VI VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1.5.1. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

1.5.2. Giới hạn nội dung nghiên cứu

1.6. KẾT CẤU ĐỀ TÀI

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CÁC NGHIÊN CỨU

2.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN

2.1.1. Cộng đồng

2.1.2. Nông thôn

Tóm tắt

I. Tổng quan về tham gia cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới

Xây dựng nông thôn mới là một trong những chương trình quan trọng của Chính phủ Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn. Sự tham gia của cộng đồng dân cư là yếu tố then chốt trong quá trình này. Việc huy động sức mạnh từ cộng đồng không chỉ giúp cải thiện cơ sở hạ tầng mà còn nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người dân đối với sự phát triển của địa phương.

1.1. Khái niệm về xây dựng nông thôn mới

Xây dựng nông thôn mới là quá trình cải cách toàn diện các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường tại nông thôn. Chương trình này không chỉ tập trung vào phát triển kinh tế mà còn chú trọng đến việc nâng cao đời sống văn hóa, giáo dục và y tế cho người dân.

1.2. Vai trò của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới

Cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định các tiêu chí xây dựng nông thôn mới. Sự tham gia của người dân giúp đảm bảo rằng các dự án được thực hiện phù hợp với nhu cầu và mong muốn của cộng đồng.

II. Thách thức trong việc tham gia của cộng đồng vào xây dựng nông thôn mới

Mặc dù có nhiều lợi ích từ việc tham gia của cộng đồng, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức. Những rào cản về nhận thức, nguồn lực và sự phối hợp giữa các bên liên quan có thể làm giảm hiệu quả của chương trình.

2.1. Rào cản về nhận thức

Nhiều người dân vẫn chưa hiểu rõ về chương trình xây dựng nông thôn mới và lợi ích mà nó mang lại. Điều này dẫn đến sự thiếu hụt trong việc tham gia và đóng góp của họ.

2.2. Thiếu nguồn lực và hỗ trợ

Nhiều cộng đồng thiếu nguồn lực tài chính và kỹ thuật để thực hiện các dự án xây dựng nông thôn mới. Sự hỗ trợ từ chính quyền và các tổ chức xã hội là rất cần thiết để khắc phục vấn đề này.

III. Phương pháp nâng cao sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới

Để tăng cường sự tham gia của cộng đồng, cần áp dụng các phương pháp hiệu quả nhằm khuyến khích người dân tham gia tích cực hơn vào các hoạt động xây dựng nông thôn mới.

3.1. Tăng cường tuyên truyền và giáo dục

Cần có các chương trình tuyên truyền rõ ràng về mục tiêu và lợi ích của xây dựng nông thôn mới. Việc tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm sẽ giúp người dân hiểu rõ hơn về vai trò của họ.

3.2. Hỗ trợ tài chính và kỹ thuật

Cung cấp các nguồn tài chính và hỗ trợ kỹ thuật cho cộng đồng sẽ giúp họ thực hiện các dự án xây dựng nông thôn mới một cách hiệu quả hơn.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới

Nhiều địa phương đã áp dụng thành công mô hình tham gia của cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới, mang lại những kết quả tích cực. Những mô hình này có thể được nhân rộng và áp dụng ở nhiều nơi khác.

4.1. Mô hình cộng đồng tự quản

Mô hình này cho phép người dân tự quản lý các dự án xây dựng nông thôn mới, từ đó nâng cao trách nhiệm và sự tham gia của họ.

4.2. Kết quả từ các dự án thành công

Nhiều dự án đã được thực hiện thành công nhờ sự tham gia tích cực của cộng đồng, từ đó cải thiện đáng kể đời sống vật chất và tinh thần của người dân.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho xây dựng nông thôn mới

Sự tham gia của cộng đồng là yếu tố quyết định cho sự thành công của chương trình xây dựng nông thôn mới. Cần tiếp tục phát huy vai trò của cộng đồng và cải thiện các chính sách hỗ trợ để đạt được mục tiêu phát triển bền vững.

5.1. Tầm quan trọng của sự tham gia cộng đồng

Sự tham gia của cộng đồng không chỉ giúp nâng cao hiệu quả của các dự án mà còn tạo ra sự đồng thuận và gắn kết trong xã hội.

5.2. Định hướng phát triển trong tương lai

Cần có các chính sách dài hạn để khuyến khích sự tham gia của cộng đồng, từ đó xây dựng một nền tảng vững chắc cho sự phát triển nông thôn bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ mức độ tham gia của cộng đồng dân cư trong xây dựng nông thôn mới tại huyện cờ đỏ thành phố cần thơ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 – Giới Thiệu: Trình bày các nội dung về lý do chọn đề tài - Mức độ tham gia, đóng góp của cộng đồng dân cư trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Cờ Đỏ Thành phố Cần Thơ. Thêm vào đó, chương này cũng trình bày các vấn đề như câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và giới hạn nghiên cứu của đề tài. Chương 2 – Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu: Nội dung chương này chủ yếu trình bàycác lý thuyết liên quan về khái niệmcộng đồng , cộng đồng nông thôn, nông thôn, nông thôn mới, vai trò của cộng đồng dân cư cũng như sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới. Ngoài ra, chương này cũng trình bày các tiêu chí xây dựng nông thôn mới và thang đo về sự tham gia của cộng đồng dân cư.

Bên cạnh đó, nội dung của chương còn đề cập đến các công trình nghiên cứu về xây dựng nông thôn mới, vai trò của cộng đồng dân cư trong quá trình xây dựng nông thôn mới. sự tham gia đóng góp của người dân đối với một số lĩnh vực khuyến nông, ngân hàng. Chương 3 – Phương pháp nghiên cứu: Trình bày các phương pháp giúp cho việc giải quyết các mục tiêu nghiên cứu của đề tài như phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích nhân tố khám phá và phương pháp hồi qui sử dụng mô hình OLS. Chương 4 – Kết quả nghiên cứu: Trình bày kết quả nghiên cứu dựa trên kết quả xử lý dữ liệu thông qua các phương pháp được trình bày ở chương 3.

Nội dung của chương sẽ mô tả địa bàn nghiên cứu, mô tả thực trạng việc tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới, mức độ tham giacủa người dân và 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Cờ Đỏ Thành phố Cần Thơ. Chương 5 – Kết luận và gợi ý chính sách: Tóm tắt các kết quả trả lời cho câu hỏi nghiên cứu và gợi ý một số chính sách giúp cho việc xây dựng nông thôn mới được thuận lợi. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CÁC NGHIÊN CỨU 2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN 2.1 Cộng đồng Theo Tô Duy Hợp (2000) thì cộng đồng là một thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức (chặt chẽ hoặc không chặt chẽ), là một nhóm người cùng chia sẻ và chịu ràng buộc bởi các đặc điểm và lợi ích chung được thiết lập thông qua tương tác và trao đổi giữa các thành viên. Các đặc điểm đó có thể làđặc điểm về kinh tế - xã hội; đặc điểm về huyết thống; mối quan tâm và quan điểm; môi trường, nhân văn.

Theo khái niệm của Trương Văn Tuyển (2007) thì cộng đồng là một nhóm người có chung một hay nhiều đặc điểm nàođó, cộng đồng là một khái niệm rộng tùy vào cách tiếp cận của nghiên cứu, các tiêu chí của nghiên cứu, các hoạt động mà cộng đồng sẽ bao gồm một hay nhiều các đối tượng xã hội khác nhau. Vì thế một cá nhân cùng lúc là thành viên của nhiều cộng đồng khác nhau và một cộng đồng lớn có thể bao gồm nhiều cộng đồng nhỏ. Trương Văn Tuyển (2007) cũng mở rộng khái niệm này cho cộng đồng nông thôn, đây là một cộng đồng mà các thành viên của cộng đồng có hoạt động sinh kế dựa vào nông nghiệp, dựa vào tài nguyên thiên nhiên cho các hoạt động trồng trọt chăn nuôi. Cộng đồng này sẽ có xu hướng chuyển đổi thành cộng đồng thành thị do ảnh hưởng của đô thị hóa, sinh kế của cộng đồng này sẽ giảm dần sự lệ thuộc vào khai thác tài nguyên thiên nhiên và được đa dạng hóa với nhiều ngành nghề khác nhau theo nhu cầu thị trường.

Đinh Phi Hổ (2011) có nhận định về cộng đồng theo 2 hướng: “Cộng đồng như là một hình thể xã hội thực tế thể hiện qua tính địa phương” hoặc “Cộng đồng được xem xét trong phạm vi rất rộng của những hoạt động và những đặc tính cụ thể điển hình cho cuộc sống hàng ngày nhưng không cần thiết tương đồng với nhau về một phương diện nào đó”.2 Nông thôn Theo Tô Duy Hợp (1997) thì nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn. Nông thôn có thể được xem xét trên nhiều góc độ nhưkinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Có thể hiểu nông thôn theo hai cách khác nhau, nông thôn có thể là lãnh thổ hay là một đại diện xã hội cho một cộng đồng có chung lợi ích, văn hóa, cách sống. Tuy nhiên theo tác phẩm của Plessis, Beshiri, Bollman và Clemenson(2002) thì trên thế giới nông thôn thường được hiểu theo khái niệm lãnh thổ với quy mô dân số, mật độ dân số, bối cảnh cư trú, bối cảnh thị trường lao động đặc trưng. Với các quốc gia thuộc nhóm OECD thì nông thôn được phân loại theo các chi tiết về quy mô dân số; mật độ dân số; mức độ tập trung của các khu vực đô thị - trung tâm thị trường lao động và tỷ trọng của nông nghiệp (United Nations, 2007).

Sự phân biệt nông thôn và thành thị có thể dựa vào các tiêu chí quy định cho từng vùng, trong đó nhiều nước đã thống nhất coi số lượng dân cư làm tiêu chí để quy định đô thị. Từ điển Bách khoa của Liên Xô năm 1986 có định nghĩa đô thị là khu vực dân cư mà phần lớn dân cư ở đó làm ngoài nông nghiệp. Còn trong từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học xuất bản năm 2002 đã định nghĩa đô thị là nơi dân cư đông đúc, là trung tâm thương nghiệp và có thể cả công nghiệp, thành phố hoặc thị trấn. Cho đến nay trên thế giới đều thống nhất coi đô thị là một điểm dân cư tập trung với số lượng lớn, mật độ cao và tỷ lệ người làm công nghiệp, dịch vụ nhiều hơn hẳn người làm nông nghiệp.

Tuy nhiên, về tiêu chí cụ thể thì có sự khác nhau giữa các nước, xuất phát từ đặc điểm riêng của từng nước. Ví dụ xét về dân số tối thiểu của một đô thị thì Liên bang Nga quy định 12.000 người, Thụy Sĩ - 10.000 người, trong khi Cu Ba, Kênya - 2.000 người, Grênada - 200 người, Uganda - 100 người. Về mật độ dân cư ở đô thị, các nước cũng có quy định khác nhau, Phần Lan quy định ít nhất là 500 người trên một dặm vuông (xấp xỉ 2. Về tỉ lệ dân số không làm việc trong ngành nông nghiệp ở một đô thị, Nhật Bản và Hà Lan quy định là 60-65%, Liên bang Nga quy định là 85%.

Còn tại Việt Nam, theo thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21 tháng 8 năm 2009 về hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới thì “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã". Quyết định số 132-HÐBT ngày 5/5/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) quy định nước ta có năm loại đô thị như sau: - Ðô thị loại 1: Dân số đạt từ 1 triệu người trở lên, mật độ dân cư từ 15.000 người/km2 trở lên, tỉ lệ lao động ngoài nông nghiệp từ 90 % trở lên. - Ðô thị loại 2: Dân số từ 350.000 đến 1 triệu người, mật độ dân cư 12.000 người/km2 , tỉ lệ lao động phi nông nghiệp từ 80% trở lên. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Ðô thị loại 3: Dân số từ 100.000 người, mật độ dân cư đạt từ 10.000 người/km2 trở lên, tỉ lệ lao động phi nông nghiệp từ 70% trở lên.

- Ðô thị loại 4: Dân số từ 30.000 người, mật độ dân cư đạt từ 8000 người/ km2 trở lên, tỉ lệ lao động phi nông nghiệp từ 70% trở lên. - Ðô thị loại 5: Dân số từ 4.000 người, mật độ dân cư từ 6.000 người/km2 trở lên, tỉ lệ lao động phi nông nghiệp từ 60% trở lên. Như vậy, khu vực nông thôn được xác định là những khu vực nằm ngoài các tiêu chí quy định trên. Có thể coi nông thôn Việt Nam bao gồm các địa bàn dân cư có số lượng dân tập trung dưới 4.000 người, mật độ dân cư ít hơn 6.000 người/ km2 và tỉ lệ lao động phi nông nghiệp dưới 60%, tức là tỉ lệ lao động nông nghiệp đạt từ 40% trở lên.

Một khái niệm khác về nông thôn được hiểu như sau: “Nông thôn là phần lãnh thổ được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã. ( Thông tư 41/2013/BNNPTNT ngày 04 tháng 10 năm 2013 về hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới) Theo quan điểm củaTô Xuân Dân (2012) nông thôn được hiểu nhiều hơn theo khía cạnh cảm nhận về không gian sống của con người. Nông thôn hiện đại là một không gian rộng lớn mà tại đó con người được sống, gắn bó hài hoà với thiên nhiên, cây cỏ, chim muông, sông núi, đất trời, không ngột ngạt trong những thành phố đầy chọc trời, bê tông, sắt thép và kính. Nông thôn hiện đại là nơi nghỉ mát trong lành, nơi giải trí phong phú, là vùng du lịch sinh thái đa dạng, yên tĩnh, thanh bình… 2.3Xây dựng nông thôn mới Nghiên cứu của Ellis và Biggs (2001) cho rằng từ những năm 2000 cho tới nay phát triển nông thôn luôn gắn với mục tiêu giảm nghèo của các quốc gia dựa theo cách tiếp cận sinh kế bền vững.

Việc xóa đói giảm nghèo là trung tâm của phát triển nông thôn, các chính phủ cũng có xu hướng chuyển từ tiếp cận nghèo đơn chiều sang nghèo đa chiều. Khái niệm phát triển nông thôn hiện đại được phát triển với nhiều định nghĩa khác nhau. Lazdinis (2006) có nhận định quan điểm mới về phát triển nông thôn của cộng đồng Châu Âu thể hiện ở ba mục tiêu: 1) Cải thiện năng lực cạnh tranh của nông lâm nghiệp bằng cách hỗ trợ tái cấu trúc, phát triển và đổi mới; 2) Cải thiện môi trường và cảnh quan nông thôn qua việc hỗ trợ quản lý đất đai; và 3) Cải thiện chất lượng đời sống nông thôn và khuyến khích đa dạng hóa các hoạt động kinh tế. Trước đó Dower (2001)đã định nghĩa “Phát triển nông thôn là một quá trình thay đổi bền vững có chủ ý về xã 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hội, kinh tế, văn hóa và môi trường nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người dân địa phương”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ