phần mở đầu, danh mục các bảng biểu, danh mục các hình, danh mục các từ viết tắt và danh mục các tài liệu tham khảo, cấu trúc luận văn gồm 3 chƣơng sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về dự án đầu tƣ và Thẩm định dự án đầu tƣ vay vốn tại Ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng Thẩm định dự án đầu tƣ vay vốn tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng Thẩm định dự án đầu tƣ vay vốn tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam (LUAN.nam download by : skknchat@gmail.nam 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƢ VÀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƢ VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Thẩm định Dự án đầu tƣ vay vốn tại Ngân hàng thƣơng mại 1. Đầu tư và dự án đầu tư 1. Khái niệm, phân loại đầu tư Khái niệm về đầu tư Đầu tư theo nghĩa rộng là sự "hy sinh" các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho ngƣời đầu tƣ các kết quả nhất định trong tƣơng lai với kỳ vọng lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt đƣợc các kết quả đó.
Nguồn lực có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ,. Các kết quả đạt đƣợc có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn lực…, Đầu tư theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả trong tƣơng lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt đƣợc các kết quả đó. Từ đây có khái niệm về đầu tƣ nhƣ sau: Đầu tƣ là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội. Phân loại đầu tư - Theo lĩnh vực hoạt động: 3 nhóm + Đầu tƣ phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật (điện, nƣớc, GTVT, thông tin liên lạc…).
Đầu tƣ cơ sở hạ tầng tạo tiền đề phát triển sản xuất kinh doanh (tạo ra sự ra đời các xí nghiệp mới, quy mô sản xuất đƣợc mở rộng) + Đầu tƣ phát triển sản xuất – kinh doanh (đầu tƣ thêm dây chuyền công nghệ để tăng cƣờng năng lực sản xuất, đầu tƣ bổ sung trang thiết bị hiện đại…). Đầu tƣ cho sản xuất kinh doanh sẽ tạo năng lực mới, sản xuất phát triển có thêm tiềm lực kinh tế để giúp phát triển trở lại cho cơ sở hạ tầng. + Đầu tƣ phát triển các hoạt động lĩnh vực văn hóa – xã hội – môi trƣờng (đầu tƣ các dự án trùng tu, tôn tạo các di sản văn hóa, lịch sử…) Đầu tƣ vào văn hóa xã hội sẽ (LUAN.nam download by : skknchat@gmail.nam 8 nâng cao học vấn, dân trí, phát triển khoa học kỹ thuật giúp phát triển trở lại cho sản xuất. - Theo mức độ đầu tư + Đầu tƣ xây dựng mới: đƣợc tiến hành với quy mô lớn, toàn diện.
Trong đó việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới đƣợc quan tâm và sử dụng tối đa. + Đầu tƣ cải tạo mở rộng: nhằm tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cao hơn trên cơ sở đầu tƣ cũ đã có (nhƣ mở rộng thêm mặt bằng mua sắm bổ sung thêm máy móc thiết bị, cải tiến dây chuyền công nghệ…). Kết quả của đầu tƣ này là nhằm nâng cao thêm năng lực và hiệu quả sản xuất. Trƣờng hợp này còn gọi là đầu tƣ chiều sâu.
- Theo thời hạn hoạt động + Đầu tƣ ngắn hạn: là những đầu tƣ nhằm vào các yếu tố và mục tiêu trƣớc mắt, thời gian hoạt động và phát huy tác dụng thƣờng ngắn, thông thƣờng trong khoảng từ 02 đến 05 năm. + Đầu tƣ trung hạn và dài hạn: là những đầu tƣ đòi hỏi nhiều về vốn đầu tƣ và lâu dài về thời gian phát huy tác dụng, thƣờng trên 5-10-15-20 năm hoặc có khi còn lâu hơn. - Theo tính chất quản lý + Đầu tƣ trực tiếp: là đầu tƣ mà trong đó chủ đầu tƣ vừa bỏ vốn, vừa trực tiếp tham gia quản lý, điều hành. Thực chất trong đầu tƣ trực tiếp, ngƣời bỏ vốn và nhà quản lý sử dụng vốn là một chủ thể.
+ Đầu tƣ gián tiếp: ở đây chủ đầu tƣ chỉ đóng vai trò góp vốn mà không tham gia quản lý, điều hành. Dạng này thƣờng thấy ở lĩnh vực đầu tƣ tài chính, nhƣ: viện trợ không hoàn lại hoặc có hoàn lại với lãi suất thấp của các chính phủ. Thực chất trong đầu tƣ gián tiếp, ngƣời bỏ vốn (nhà đầu tƣ, các cổ đông…) và nhà quản trị sử dụng vốn (chủ doanh nghiệp) là khác chủ thể. Khái niệm, phân loại dự án đầu tư Khái niệm dự án đầu tư - Theo Luật đầu tƣ năm 2014: Dự án đầu tƣ là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tƣ trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định.
- Theo Nguyễn Bạch Nguyệt (2012) thì dự án đầu tƣ Về mặt hình thức: dự án đầu tƣ là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách (LUAN.nam download by : skknchat@gmail.nam 9 chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch nhằm đạt đƣợc những kết quả và thực hiện đƣợc những mục tiêu nhất định trong tƣơng lai. Xét trên góc độ quản lý: dự án đầu tƣ là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tƣ, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế xã hội trong một thời gian dài. Trên góc độ kế hoạch hóa: dự án đầu tƣ là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuôc đầu tƣ sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội, làm tiền đề cho các quyết định đầu tƣ và tài trợ. Xét theo góc độ này dự án đầu tƣ là một hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hóa nền kinh tế nói chung (một đơn vị sản xuất kinh doanh cùng một thời kỳ có thể thực hiện nhiều dự án).
Xét về mặt nội dung: dự án đầu tƣ là tổng thể các hoạt động và chi phí cần thiết, đƣợc bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch trình thời gian và địa điểm xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tƣơng lai. Nhƣ vậy, một dự án có thể đƣợc xem xét nhƣ là một chuỗi công việc và các nhiệm vụ và trình tự các bƣớc thực hiện: dự án có mục tiêu cụ thể đƣợc hoàn thành trong những điều kiện nhất định; dự án đƣợc xác định rõ ràng thời gian bắt đầu và kết thúc; dự án có giới hạn nhất định về tài chính; Dự án sử dụng các nguồn lực nhất định về phƣơng tiện, thiết bị, con ngƣời. Phân loại dự án đầu tư DAĐT đƣợc phân loại theo nhiều hình thức khác nhau, tùy theo mục đích nghiên cứu DAĐT đƣợc phân loại dựa trên các tiêu thức riêng. Một số cách phân loại DAĐT hiện nay là: - Theo tính chất, bao gồm: DAĐT sản xuất kinh doanh, DAĐT phát triển kinh tế- xã hội, DAĐT chuyển giao công nghệ, DAĐT nhân đạo.
- Theo nguồn vốn đầu tƣ của DAĐT, bao gồm: DAĐT bằng nguồn vốn trong nƣớc, DAĐT bằng nguồn vốn trực tiếp nƣớc ngoài, DAĐT bằng nguồn vốn của chính phủ, DAĐT bằng nguồn vốn của khu vực tƣ nhân, liên doanh, cổ phần. - Theo ngành nghề, lĩnh vực đầu tƣ, bao gồm: DAĐT thuộc ngành công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy hải sản, kết cấu hạ tầng, du lịch, dịch vụ. - Theo thời gian thực hiện, bao gồm: DAĐT ngắn hạn, trung hạn, dài hạn. - Theo quy mô đầu tƣ, bao gồm: DAĐT có quy mô lớn, quy mô vừa và quy mô nhỏ.nam download by : skknchat@gmail.nam 10 Tại VDB, DAĐT đƣợc phân cấp theo yêu cầu phân cấp quản lý của Nhà nƣớc tức là DAĐT đƣợc phân thành 3 nhóm: DA nhóm A, DA nhóm B và DA nhóm C theo quy định tại Nghị định 59/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 06 năm 2015 về Quản lý DAĐT xây dựng.
Thẩm định dự án đầu tư vay vốn Ngân hàng thương mại 1. Hoạt động cho vay và cho vay theo dự án đầu tư Khái niệm tín dụng đầu tư của Nhà nước Tín dụng ĐTPT của Nhà nƣớc chỉ ra đời khi mục đích của tín dụng Nhà nƣớc chuyển từ chi tiêu sang đầu tƣ dƣới dạng cho vay có hoàn trả. Tính kinh tế của hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nƣớc xuất hiện khi các hoạt động đầu tƣ đƣợc sử dụng từ nguồn vốn này để tạo ra nguồn thu có khả năng hoàn trả khoản vốn đã sử dụng. Giống nhƣ các hình thức tín dụng khác, cơ chế tín dụng ĐTPT của Nhà nƣớc không chỉ góp phần tập trung đƣợc nguồn vốn cần thiết mà còn có tác dụng nâng cao hiệu quả sử dụng, bảo toàn và phát triển đƣợc nguồn vốn của Nhà nƣớc.
Qua đó, Nhà nƣớc có thể mở rộng và chủ động trong việc giải quyết các mục tiêu vào ĐTPT. Tuy nhiên, tín dụng ĐTPT của Nhà nƣớc lại là một hình thức tín dụng đặc biệt, ở đó tính kinh tế của tín dụng Nhà nƣớc không phải là kinh tế đơn thuần. Thông thƣờng tính kinh tế của tín dụng ĐTPT của Nhà nƣớc có những đặc tính sau: - Tính kinh tế vĩ mô: Tín dụng ĐTPT của Nhà nƣớc sẽ tập trung vào các lĩnh vực then chốt, có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân cả nƣớc, hoặc một ngành, một vùng, hay một khu vực. - Tính xã hội: Tín dụng ĐTPT của Nhà nƣớc sẽ tập trung vào các lĩnh vực mà tín dụng thƣơng mại với mục tiêu hàng đầu là lợi nhuận có thể không giải quyết đƣợc (do hiệu quả trực tiếp của nhà đầu tƣ không đƣợc đảm bảo, hoặc qui mô nguồn vốn quá lớn, hay thời gian thu hồi vốn đầu tƣ quá dài) để giải quyết các vấn đề xã hội của đất nƣớc: việc làm cho ngƣời lao động, xóa đói giảm nghèo, điều chỉnh cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế vùng.
Theo Quyết định số 146/QĐ-HĐQT ngày 15/52017 của Ngân hàng phát triển Việt Nam thì: "Cho vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước là một hình thức cấp tín dụng, theo đó VDB giao hoặc cam kết giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để đầu tư dự án thuộc Danh mục các dự án vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước trong một (LUAN.