CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt động cho vay DNNVV của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm hoạt động cho vay DNNVV của ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng có thể thực hiện các hoạt động như nhận tiền gửi, huy động vốn, đầu tư tài chính và cung cấp các dịch vụ thanh toán. Trong đó, cho vay là một trong những nghiệp vụ quan trọng, mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng.
Thực tế còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về hoạt động cho vay, song ta có thể hiểu theo khái niệm sau: “Cho vay là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Như vậy, khái niệm cho vay đối với DNNVV của ngân hàng thương mại có thể hiểu một cách khái quát “Là hình thức cho vay, trong đó có sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ phía ngân hàng thương mại sang người sử dụng (người vay) là các doanh nghiệp nhỏ và vừa để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Đặc điểm cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa: Hiện nay, các nước trên thế giới vẫn chưa đưa ra một tiêu chí chung để nhận định DNNVV nhưng nhìn chung, việc phân loại được dựa trên các mặt như : số lượng công nhân viên, quy mô tài sản, doanh thu, lĩnh vực hoạt động.
Ví dụ: - Theo Liên minh châu Âu (EU) thì quy định “Các loại hình doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) là các doanh nghiệp có giá trị tổng cộng trên bảng cân đối nhỏ hơn 43.000 € và / hoặc có số lượng công nhân viên ít hơn 250 người và doanh thu không quá 50 triệu €.” - Theo Luật Hỗ trợ DNNVV 2017, “Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao đọng tham gia bảo 3 hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí: tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng và tổng doanh thu của năm liền kề không quá 300 tỷ đồng.” Đặc điểm DNNVV: Thứ nhất, doanh nghiệp có quy mô nhỏ, cơ cấu tổ chức đơn giản, linh hoạt nhưng năng lực quản trị chưa cao. DNNVV có cơ cấu tổ chức đơn giản do đó sự liên kết giữa các phòng ban được rút ngắn thời gian, từ đây doanh nghiệp có thể dễ nắm bắt nhu cầu thị trường, dễ dàng đưa sản phẩm ra thị trường một cách nhanh chóng linh hoạt nhằm đáp ứng nhu cầu luôn thay đổi của thị trường. Tuy nhiên, cơ cấu tổ chức này cũng bộc lộ những điểm hạn chế như: không có phòng ban riêng đảm nhận những công việc quan trọng, không phân công trách nhiệm rõ ràng, quy trình quản lý công việc và nhân sự chưa được chuẩn hóa. Về dài hạn, điều này sẽ cản trở đến sự phát triển của doanh nghiệp.
Thứ hai, VCSH thấp và tiềm lực tài chính nhỏ nên khó tiếp cận được với nguồn vốn bên ngoài. Một doanh nghiệp muốn hoạt động được trước tiên cần có vốn. Vốn luôn là vấn đề trúc trắc của tất cả các doanh nghiệp, đặc biệt là DNNVV. Hầu hết các doanh nghiệp mới thành lập chưa có uy tín cao trên thị trường do đó việc huy động vốn từ các kênh như chứng khoản, kêu gọi nhà đầu tư, vay tín chấp ngân hàng,.
là vô cùng khó khăn. Thiếu vốn dẫn tới các hoạt động SXKD của doanh nghiệp bị đình trệ, việc đầu tư nhà xưởng, nâng cấp quy trình công nghệ, máy móc bị hạn chế dẫn tới càng khó khăn phát triển mở rộng hơn. Thứ ba, chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, chủ yếu người lao động trình độ thấp Vì là những DNNVV tổ chức phòng ban còn đơn giản, việc tuyển dụng thường do một cá nhân chịu trách nhiệm đăng tin tuyển trên báo chí hoặc internet và tiến hành phỏng vấn sau đó đưa giám đốc ký khi cần phê duyệt do đó đã hạn chế rất nhiều trong việc các ứng viên phù hợp tiếp cận thông tin việc làm. Bên canh đó, do tên tuổi công ty chưa có trên thị trường nên việc thu hút các ứng viên giỏi là vô cùng khó, các ứng viên thực sự giỏi có như cầu tìm đến doanh nghiệp nơi mà môi trường làm việc chuyên nghiệp, đãi ngộ tốt,.do đó nhân viên trong các DNNVV thường rất đa dạng, thậm chí quản lý trong công ty cũng từ nhân viên trình độ phổ thông sau nhiều năm tích lũy 4 được bổ nhiệm.
Ngoài ra, các DNNVV tại Việt Nam thường do cá nhân sau nhiều năm buôn bán tích lũy kinh nghiệm thành lập hoặc do nhóm người như bạn bè gia đình cùng nhau góp vốn nên bị ảnh hưởng bới kiểu điều hành gia đình, khó thu hút nhà quản lý giỏi. Thứ tư, DNNVV hoạt động trong nhiều lĩnh vực. Các DNNVV rất đa dạng trong lĩnh vực hoạt động, hầu như mọi lĩnh vực trong sống từ nông lâm ngư nghiệp, kinh doanh phân phối hàng hóa thiết yếu, … DNNVV có mặt ở hầu hết các địa phương và dụng nguồn lực tại chỗ dồi dào. Tuy nhiên với quy mô nhỏ nên chi phí SXKD còn cao, khó cạnh tranh so với các doanh nghiệp lớn, mặt khác các DNNVV thường có xu hương sản xuất phục vụ cho một nhóm khách hàng có nhu cầu riêng biệt, thị tường ngách nên đã dạng khách hàng chưa cao.
Đặc điểm cho vay DNNVV Hiểu được đặc điểm của các DNNVV, hoạt động cho vay đối với đối tượng này cũng có những đặc điểm riêng, đặc thù như sau: Thứ nhất, dư nợ tín dụng đối với mỗi doanh nghiệp thường chưa cao. Đặc điểm này xuất phát từ quy mô hoạt động SXKD của DNNVV không lớn, trong qua trình hoạt dộng SXKD chỉ cần lượng nhỏ vốn để bổ sung vốn lưu động. Vì vậy nhóm khách hàng DNNVV thuộc thị trường bán lẻ của các ngân hàng. Tuy nhiên, DNNVV lại chiếm hơn 90% tổng số doanh nghiệp Việt Nam, nếu tận dụng sự đông đảo của nhóm đối tượng này nếu ngân hàng biết tận dụng cơ hội khai thác khả năng tăng trưởng tín dụng rất lớn.
Thứ hai, mức độ rủi ro cho vay cao. Các DNNVV thường hoạt động với quy mô nhỏ, bộ máy tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh giản đơn, thiếu chặt chẽ, việc chấp hành các quy định nhà nước về chế độ kế toán tài chính còn nhiều bất cập. Do đó, ngân hàng thường gặp phải nhiều rủi ro khi cho DNNVV vay vốn như : không trả nợ đúng hạn, chậm trả gốc và lãi tiền vay, sử dụng nguồn vốn vay sai mục đích, không thu hồi được nợ, mất vốn. Việc cho vay các doanh nghiệp lớn vay thường ít rủi ro hơn tuy nhiên cho các DNNVV vay sẽ giúp những rủi ro có thể phân tán được và không mang tính hệ thống.
Hơn nữa, quy mô một món vay nhỏ khi phát sinh nợ quá hạn thì chủ yếu tác động tới thu nhập ngân hàng, không tạo thành các rủi ro khác như: rủi ro thanh khoản, rủi ro phá sản. Thứ ba, lợi nhuận thu về từ hoạt động cho vay khách hàng DNNVV cao hơn. 5 Với nhóm DNNVV do chưa có uy tín cũng như TSBĐ các ngân hàng sẽ áp dụng mức lãi suất cao hơn so với các công ty lớn. Giá trị của một món vay tuy không lớn nhưng số lượng các DNNVV đông đảo, nên việc gia tăng lợi nhuận từ nhóm DNNVV này rất có khả năng.Không chỉ đơn thuần hưởng lợi nhuận từ hoạt động tín dụng, chúng ta có thể tận dụng khai thác ở nhiều mặt như mở thẻ cung cấp dịch vụ cho toàn nhân viên công ty, thu phí dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, doanh nghiệp còn có thể giúp công ty giới thiệu sản phẩm đến nhân viên gia tăng lượng tiền gửi ngân hàng mà giảm chi phí quảng cáo,… 1.
Phân loại các hình thức cho vay 1. Căn cứ phương thức cho vay Theo Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng: Cho vay theo từng lần Tại điều 27, khoản 1: “Cho vay từng lần: Mỗi lần cho vay, tổ chức tín dụng và khách hàng thực hiện thủ tục cho vay và ký kết thỏa thuận cho vay.” Đây là hình thức cho vay theo món, áp dụng khách hàng chỉ cần vốn tạm thời, hoặc khi ngân hàng cần giám sát chặt chẽ hơn việc sử dụng vốn doanh nghiệp. Cho vay theo hạn mức Theo điều 27, khoản 4 : “Tổ chức tín dụng xác định và thỏa thuận với khách hàng một mức dư nợ cho vay tối đa được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. Trong hạn mức cho vay, tổ chức tín dụng thực hiện cho vay từng lần.
Một năm ít nhất một lần, tổ chức tín dụng xem xét xác định lại mức dư nợ cho vay tối đa và thời gian duy trì mức dư nợ này.” Hình thức này áp dụng với khách hàng thường xuyên có nhu cầu về vốn. Cho vay theo dự án đầu tư Đây là hình thức mà ngân hàng cấp vốn cho doanh nghiệp dựa trên một dự án mà doanh nghiệp đang có dự định đầu tư và nguồn vốn chỉ dùng để đầu tư cho dự án đó. Thông thường khoản vay này thường là vay trung hoặc dài hạn kéo dài đến khi dự án kết thúc nếu như nguồn vốn sử dụng không có gì bất thường. Cho vay theo hạn mức dự phòng Theo điều 27, khoản 5: “Tổ chức tín dụng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi mức cho vay dự phòng đã thỏa thuận.
Tổ chức tín dụng và 6 khách hàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức cho vay dự phòng nhưng không vượt quá 01 (một) năm. Cho vay hợp vốn Theo điều 27, khoản 2: “Cho vay hợp vốn: Là việc có từ hai tổ chức tín dụng trở lên cùng thực hiện cho vay đối với khách hàng để thực hiện một phương án, dự án vay vốn.” Đây thường có thể là dự án lớn, ngân hàng có thể cùng nhau cho vay để giảm thiểu rủi ro. Cho vay theo hạn mức thấu chi Theo điều 27, khoản 6: “Cho vay theo hạn mức thấu chi trên tài khoản thanh toán: Tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng một mức thấu chi tối đa để thực hiện dịch vụ thanh toán trên tài khoản thanh toán.