CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN VỐN CỦA DNNVV 1. Tổng quan về DNNVV 1. Khái niệm DNNVV Theo luật doanh nghiệp số 59/2020/QH14 năm 2020, doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. Ở mỗi một quốc gia, DNNVV được định nghĩa dựa theo các tiêu chí khác nhau, thường dự trên số lượng nhân viên, doanh thu hàng năm hoặc giá trị tài sản của doanh nghiệp.
Tại Việt Nam, các tiêu chí xác định DNNVV được quy định trong Luật hỗ trợ DNNVV và được thay đổi theo từng thời kỳ để phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế. Theo Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa số 04/2017/QH14, Điều 4 quy định: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: a) Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; b) Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng.” Cụ thể, các tiêu chí xác định được làm rõ trong Nghị định số 80/2021/NĐ-CP của Chính phủ: Bảng 1.1: Tiêu chí xác định DNNVV ở Việt Nam. Quy Doanh nghiệp siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa mô Tổng doanh Tổng doanh Tổng doanh Số lao Số lao thu hoặc Số lao thu hoặc thu hoặc tổng Lĩnh động động tổng nguồn động tổng nguồn nguồn vốn vực vốn vốn Nông Không Tổng doanh Không Tổng doanh Không nghiệp, Không quá 3 tỷ quá thu không quá thu không quá 10 lâm đồng 100 quá 50 tỷ 200 quá 200 tỷ người nghiệp, người đồng hoặc người đồng hoặc 3 thuỷ tổng nguồn tổng nguồn sản và vốn không vốn không công quá 20 tỷ quá 100 tỷ nghiệp, đồng đồng xây dựng Tổng doanh Tổng doanh Tổng doanh thu thu không thu không không quá 10 quá 100 tỷ Không quá 300 tỷ Thương Không Không tỷ đồng hoặc đồng hoặc quá đồng hoặc mại, quá 10 quá 50 tổng nguồn vốn tổng nguồn 100 tổng nguồn dịch vụ người người không quá 3 tỷ vốn không người vốn không đồng quá 50 tỷ quá 100 tỷ đồng đồng 1. Đặc điểm của DNNVV Ngoài những đặc điểm vốn có của một doanh nghiệp, DNNVV còn có những đặc điểm riêng biệt khác mà doanh nghiệp lớn không có.
Thứ nhất, DNNVV có quy mô sản xuất kinh doanh và tiềm lực tài chính nhỏ. Quy mô hoạt động nhỏ đem lại những lợi thế và cả bất lợi cho doanh nghiệp. DNNVV thường thuận lợi hơn trong việc thành lập, dễ thâm nhập thị trường và khả năng thu hồi vốn nhanh. Đồng thời, quy mô nhỏ khiến cho DNNVV khó cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn, lâu năm trong lĩnh vực kinh doanh thông thường, từ đó tạo động lực cho các doanh nghiệp tìm kiếm hướng phát triển mới.
Tuy nhiên, với xuất phát điểm là vốn ít trong khi nhu cầu mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh tăng cao, DNNVV không đủ kinh phí để nâng cấp thiết bị, công nghệ, mở rộng nhà xưởng, đào tạo nhân viên. Thứ hai, bộ máy quản lý của DNNVV gọn nhẹ, năng động nhưng năng lực quản trị chưa tốt; lao động có trình độ tay nghề cao không nhiều. Với số lượng 4 lao động không nhiều, cơ cấu tổ chức sản xuất cũng như bộ máy quản lý trong các DNNVV tương đối gọn, đồng nghĩa với việc các nhà quản trị của DNNVV phải nắm bắt và quản lý trong tất cả các khâu. Điều này làm tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, người lao động tiếp cận được quyết định, chỉ tiêu của ban lãnh đạo nhanh hơn, tiết kiệm chi phí quản lý doanh nghiệp.
Với bộ máy quản lý tinh gọn, DNNVV dễ dàng chủ động đưa ra quyết định nhanh chóng, nhạy bén với những thay đổi trong môi trường kinh doanh, sản xuất mặt hàng hợp thị yếu của người tiêu dùng. Tuy nhiên, các nhà quản lý DNNVV thường ít được đào tạo qua các trường lớp chính quy, thiếu những kiến thức cơ bản về tài chính, pháp luật, quản trị kinh doanh…, mà chủ yếu sử dụng kinh nghiệm thực tế nên có thể đưa ra các quyết định thiếu chuẩn xác, gây rủi ro cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, nguồn lao động chủ yếu của DNNVV là lao động phổ thông, người lao động có trình độ, tay nghề cao chiếm một tỷ lệ không lớn. Do hạn chế về tài chính, môi trường làm việc, cơ hội thăng tiến hay chế độ phúc lợi thấp, DNNVV không đủ sức thu hút được những lao động có trình độ, chuyên môn cao.
Đây chính là thực trạng khó khăn của các DNNVV. Thứ ba, DNNVV có đa dạng loại hình doanh nghiệp, lĩnh vực kinh doanh. DNNVV có thể tồn tại dưới hình thức hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần… trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. Với quy mô nhỏ, DNNVV dễ dàng có khả năng tập dụng được nguồn lao động và nguyên vật liệu tại trong địa phương, đáp ứng được những thay đổi trong nhu cầu của thị trường một cách nhanh chóng.
Trong đó, các ngành kinh doanh ăn uống, lương thực thực phẩm, thời trang, may mặc và những sản phẩm tiêu dùng là thế mạnh của DNNVV do có bộ máy tổ chức quản lý gọn nhẹ. Thứ tư, chiến lược sản xuất kinh doanh, trình độ khoa học công nghệ và năng lực cạnh tranh của DNNVV còn hạn chế. Nhiều DNNVV chưa có một chiến lược kinh doanh rõ ràng, phù hợp với mục tiêu hoạt động. Các doanh nghiệp phần lớn chỉ xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh mang tính tạm thời, ngắn hạn, dẫn đến việc đi lệch hướng so với mục đích đề ra ban đầu.
Về khoa học công nghệ, trong thời đại 4.0, việc đầu tư và phát triển khoa học công nghệ giúp doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản xuất, tiết kiệm chi phí, thời gian là điều kiện cốt lõi để doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy vậy, quy mô nhỏ của DNNVV đôi khi 5 không đáp ứng được nhu cầu trên, hạn chế trong việc đầu tư nâng cấp máy móc, thiết bị, dẫn đến các doanh nghiệp thường phải sử dụng công nghệ lạc hậu với chi phí sản xuất cao và mất nhiều thời gian. Thứ năm, hoạt động của DNNVV phụ thuộc vào biến động của môi trường kinh doanh. Quy mô hoạt động nhỏ, mang tính thời vụ, chiến lược kinh doanh ngắn hạn dẫn đến mức độ đa dạng hoá hoạt động kinh doanh và tính ổn định của DNNVV tương đối thấp.
Vì vậy, những thay đổi trong môi trường kinh tế thường có những ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của DNNVV. Tuy nhiên, DNNVV cũng có những lợi thế nhất định khi chuyển hướng kinh doanh sản xuất, thay đổi số lượng lao động, thậm chí di chuyển địa điểm sản xuất dễ dàng hơn các doanh nghiệp lớn. Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế Những năm qua, nhóm DNNVV đã và đang khẳng định vai trò động lực quan trọng để phát triển kinh tế của các địa phương, đã tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội, đóng góp ngày càng lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương nói riêng và cả nước nói chung. Ở mỗi nền kinh tế, DNNVV có thể giữ những vai trò với mức độ khác nhau, song nhìn chung đều có vai trò tương đồng, cụ thể như sau: Thứ nhất, DNNVV giữ vai trò quan trọng với nền kinh tế.
DNNVV chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số doanh nghiệp đang hoạt động của nền kinh tế. Nhóm doanh nghiệp này hoạt động trong mọi lĩnh vực, ngành nghề từ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ. không chỉ có vai trò lớn trong phát triển kinh tế mà còn góp phần giải quyết nhiều vấn đề xã hội. Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa như hiện nay, các nước nói chung và các quốc gia đang phát triển nói riêng đều chú ý hỗ trợ các DNNVV, nhằm huy động tối đa các nguồn lực tham gia phát triển đất nước.
Thứ hai, DNNVV giữ ổn định nền kinh tế. Ở phần lớn các nền kinh tế, không chỉ riêng Việt Nam, các DNNVV là những nhà thầu phụ, tham gia thực hiện gói thầu theo hợp đồng được ký, cho các doanh nghiệp lớn. Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định. Chính vì vây, DNNVV được coi là “thanh giảm sốc”, giữ ổn định cho nền kinh tế đất nước.
6 Thứ ba, DNNVV khai thác và phát huy tốt các nguồn lực tại chỗ, góp phần chuyển dịch cơ cấu. Nếu doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở trung tâm kinh tế của đất nước thì DNNVV lại có mặt ở khắp các địa phương và có những đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, sản lượng cũng như tạo công ăn việc làm ở địa phương. DNNVV có quy mô nhỏ, bộ máy tổ chức tinh gọn, dễ thành lập, dễ thâm nhập vào thị trường, các doanh nghiệp này có thể khai thác hết các tiềm năng và ưu thế của địa phương ở cả những nơi kém phát triển, điều kiện tự nhiên và cơ sở hạ tầng chưa phát triển, giúp quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn diễn ra nhanh hơn. DNNVV làm cho nền kinh tế năng động hơn và đóng góp không nhỏ vào việc tăng hiệu quả hoạt động của nền kinh tế.
Thứ tư, DNNVV tạo động lực cho sự cạnh tranh của nền kinh tế. DNNVV là nhóm doanh nghiệp có quy mô nhỏ nhưng rất năng động, nhạy bén và sẵn sàng đổi mới hơn so với các doanh nghiệp lớn, đã tồn tại và phát triển lâu năm. Hiện nay, trong mỗi ngành, lĩnh vực khác nhau, rất nhiều DNNVV được thành lập, hoạt động, điều này điều này tạo ra một môi trường cạnh tranh bình đẳng, làm giảm tính độc quyền và buộc các DNNVV phải liên tục đổi mới, cạnh tranh với nhau, đa dạng hoá mặt hàng, nâng cao chất lượng sản phẩm để tồn tại và phát triển. Các DNNVV luôn duy trì một môi trường cạnh tranh năng động, loại bỏ các doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả, điều này làm tăng tính linh hoạt và giảm bớt rủi ro cho nền kinh tế.
Khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của DNNVV 1. Quan niệm về khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng của DNNVV Vốn là nhân tố trọng yếu của DNNVV tồn tại, cạnh tranh và phát triển trong nền kinh tế hội nhập quốc tế mạnh mẽ như hiện nay. Cấu trúc vốn của DNNVV bao gồm hai nguồn vốn chính là vốn bên trong và vốn bên ngoài doanh nghiệp.