Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển hoạt động cho vay KHDN của ngân hàng thương mại. 8 Chương 2: Thực trạng phát triển hoạt động cho vay KHDN tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh Tuyên Quang. Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động cho vay KHDN tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh Tuyên Quang 9 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thƣơng mại 1. Khách hàng doanh nghiệp Doanh nghiệp là thuật ngữ được sử dụng nhằm gọi tên chung các tổ chức kinh tế có hoạt động sản xuất, kinh doanh, cung cấp sản phẩm, dịch vụ trên thị trường. Tại Việt Nam, Luật doanh nghiệp số 59/2020/QH14 ngày 17 tháng 06 năm 2020 định nghĩa: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Như vậy, doanh nghiệp được hiểu là một chủ thể kinh tế độc lập, có tên gọi và hoạt động với danh nghĩa riêng, thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh trên thị trường.
Khái niệm và vai trò của hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Cho vay là hình thức cấp tín dụng chủ yếu trong các hình thức cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Theo Nguyễn Văn Tiến (2013), “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo giá thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi. Thời hạn nhất định ở đây chính là thời hạn cho vay”.
Như vậy có thể nhận định hoạt động cho vay đối với KHDN là một trong những biện pháp NHTM cấp tín dụng nhằm tài trợ cho nhu cầu tài chính của doanh nghiệp. Nguồn vốn này giúp cho doanh nghiệp/tổ chức thực hiện các mục đích khác 10 nhau như: tài trợ vốn SXKD, thương mại, dịch vụ, đầu tư tài sản cố định,… (mục đích, quy trình, thời hạn sử dụng vốn theoc thỏa thuận giữa hai bên). Vai trò của cho vay khách hàng doanh nghiệp Cho vay KHDN đóng một vai trò quan trọng không chỉ đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại mà còn có vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp, nền kinh tế. Thứ nhất, đối với hoạt động của ngân hàng thương mại: Hoạt động cho vay đối với khách hàng là doanh nghiệp thúc đẩy và nâng cao uy tín của ngân hàng, cải thiện khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường, nhờ đó mở rộng và nâng cao số lượng khách hàng, nâng quy mô huy động vốn cho ngân hàng.
Cho vay đối với KHDN giúp cho NHTM cải thiện nguồn thu nhập, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển lâu dài, làm cơ sở cho các hoạt động kinh doanh phát triển đa dạng hơn và cuối cùng giúp ngân hàng thúc đẩy lợi nhuận và quản trị rủi ro. Thứ hai, đối với doanh nghiệp: Vốn vay ngân hàng (nhất là vay vốn hoạt động) là nguồn bổ sung vốn ngắn hạn phục vụ hoạt động SXKD thường xuyên của các doanh nghiệp. Ngoài ra, với nhu cầu đầu tư dài hạn, vốn vay ngân hàng là một nguồn bổ sung vốn quan trọng đáp ứng nhu cầu đầu tư vào tài sản cố định nhằm xây dựng nhà xưởng, máy móc thiết bị đối với các DN. Vay vốn ngân hàng giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị kinh doanh, năng lực quản lý tài chính của DN.
Nguồn vốn nhàn rỗi trong nước nhờ hoạt động cho vay được tập hợp và giúp các doanh nghiệp mở rộng đầu tư phát triển SXKD. Thứ ba, đối với nền kinh tế: Doanh nghiệp đóng vai trò chủ chốt đối với sự phát triển của một nền kinh tế và là nơi chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP). Bằng hoạt động cho vay, nguồn vốn nhàn rỗi được ngân hàng huy động một cách tối đa và cung cấp cho các DN có nhu cầu thực hiện các phương án SXKD. Bằng việc huy động nguồn tiền nhàn rỗi của nền kinh tế, ngân hàng cung cấp cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân cần vốn để triển khai các phương án sản xuất kinh doanh.
Hoạt động cho vay cung cấp nguồn vốn và giúp doanh nghiệp, tổ chức 11 thoát khỏi tình trạng khó khăn, ngoài ra, tăng cường nguồn vốn cho mục đích đầu tư, tài trợ của doanh nghiệp. Với doanh nghiệp nói riêng, các khoản vay sẽ đẩy quy mô sản xuất tăng nhanh nhờ lợi thế đòn bẩy tài chính và giúp cải thiện năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, giảm giá thành và giúp tăng thêm sản phẩm cho xã hội, tạo thêm việc làm mới, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (Nguyễn Minh Kiều, 2012). Đặc điểm hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại * Đặc điểm Theo Nguyễn Văn Tiến (2013), cho vay KHDN có một số đặc điểm cụ thể như sau: Thứ nhất, quy mô khoản vay càng lớn sẽ đem lại lợi nhuận càng cao cho NH nhưng lại tiềm ẩn nhiều rủi ro. Hoạt động cho vay đối với KHDN của NHTM được dựa trên những nhu cầu về nguồn vốn cho SXKD, kinh doanh thương mại, xây dựng, các dự án cho đầu tư phát triển,… của công ty.
Quy mô của các khoản vay này có thể có giá trị rất lớn, lên tới hàng trăm, hàng ngàn tỷ đồng do đây là các khoản vay nhằm mục đích như xây dựng công trình, đầu tư tài sản cố định thường, lớn hơn gấp nhiều lần so với giá trị các khoản cho vay khác. Ngoài ra, các NHTM còn thu thêm nhiều khoản phí dịch vụ kèm theo như phí thanh toán, phí chuyển tiền quốc tế hoặc các phí liên quan đến phát hành, thanh toán thư cho vay (L/C). Thứ hai, do khoản vay có giá trị lớn nên đi kèm với các khoản cho vay này là mức độ rủi ro tương đối cao. Giữa các doanh nghiệp hiện nay, mức độ cạnh tranh là rất gay gắt, hơn nữa các yếu tố như giá cả, cung cầu cũng tác động rất lớn tới hoạt động SXKD của doanh nghiệp.
Vì vậy rủi ro luôn luôn thường trực đối với hoạt động của công ty, kể cả các rủi ro mang tính chất chủ quan như rủi ro hoạt động hoặc rủi ro đạo đức, song song với các rủi ro mang khách quan như rủi ro tỷ giá, rủi ro về chính sách hoặc rủi ro về các điều kiện khi hậu, tự nhiên. Thứ ba, với đối tượng khách hàng doanh nghiệp là những đơn vị có sự đa dạng về ngành nghề, hoạt động trong nhiều lĩnh vực SXKD nên chi phí cho mỗi 12 khoản cho vay KHDN là khá lớn do phải bỏ thêm nhiều chi phí cho công việc thẩm định, trình, xem xét phê duyệt cho vay và quản lý sau khi cho vay. Chính vì thế, việc cho vay đối với KHDN luôn nằm trong các khoản mục đòi hỏi chi phí lớn trong các khoản mục cấp cho vay của NHTM. Thứ tư, các quy định, quy trình và chính sách nghiêm ngặt, chặt chẽ đối với việc cho vay dành cho KHDN và yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ vững chắc đối với cán bộ cho vay.
Việc thẩm định, quyết định cho vay lâu và phức tạp hơn để có thể đảm bảo chất lượng khoản vay và hạn chế tối đa các rủi ro phát sinh. Phân loại cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại Có nhiều tiêu chí khác nhau được sử dung để phân loại tín dụng khách hàng doanh nghiệp như tiêu chí về thời hạn cho vay, tiêu chí về quy mô doanh nghiệp, về loại sản phẩm vay vốn, về tài sản đảm bảo…(Phan Thị Cúc, 2013). - Căn cứ theo thời hạn vay: Cho vay ngắn hạn “là loại hình cho vay mà thời hạn cho vay không vượt quá 12 tháng”. Cho vay ngắn hạn chính là việc các NHTM tài trợ cho nhu cầu về vốn lưu động của doanh nghiệp bên cạnh việc sử dụng nguồn vốn tự có của doanh nghiệp đó.
Nhờ có nguồn vốn vay ngắn hạn này, các DN có thể tận dụng được thời cơ kinh doanh mới, duy trì hoặc mở rộng hoạt động SXKD cùa mình và hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế sẽ được nâng cao. Do các khoản cho vay ngắn hạn có thời hạn vay ngắn hơn, nguồn trả nợ được xác định rõ ràng hơn nên có độ rủi ro thấp hơn so với các khoản vay trung dài hạn, vậy nên lãi suất đối với khoản vay ngắn hạn sẽ thấp hơn. Cho vay trung dài hạn: bao gồm 2 hình thức là cho vay đối với DN trung hạn (thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng) và cho vay đối với DN dài hạn (thời hạn cho vay từ 60 tháng trở lên). Mục đích chính của khoản vay trung hạn là cung cấp nguồn tài trợ để đầu tư nhà xưởng, máy móc thiết bị hay phương tiện vận tải,… (gọi chung tài sản cố định) của DN.
Vì vậy, cho vay trung dài hạn sẽ có lãi suất cho vay cao, NH thu được lợi nhuận lớn tuy nhiên do thời hạn dài, rủi ro tín dụng là khá cao. 13 - Căn cứ vào quy mô doanh nghiệp Cho vay đối với KHDN lớn: đây là đối tượng khách hàng quan trọng nhất trong khối KHDN, được các NHTM đặc biệt quan tâm và ưu đãi. NH sẽ gặp ít rủi ro hơn khi cho vay các DN lớn nhờ vị thế, uy tín, khả năng tài chính của DN trên thị trường nhưng lãi suất NH được hưởng sẽ không cao do phải cạnh tranh với các NH khác. Cũng chính vì áp lực cạnh tranh mà đôi khi Ngân hàng sẽ phải nhượng bộ trong quá trình quan hệ tín dụng.
- Cho vay KHDN vừa và nhỏ: DN vừa và nhỏ chiếm đa số trong tổng số DN và là nguồn khách hàng dồi dào, phong phú nhất để các NHTM tiếp cận và khai thác. Rủi ro cho NH khi cấp tín dụng cho loại hình DN này là khá cao do quy mô doanh nghiệp nhỏ, năng lực tài chính và tài sản thế chấp không cao và phải cạnh tranh rất gay gắt với các doanh nghiệp khác trên thị trường để tồn tại nên tỷ lệ doanh nghiệp hoạt động thực sự có hiệu quả là không cao. - Căn cứ vào hình thức cho vay Theo điều 27.