CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm rủi ro và rủi ro tín dụng 1. Rủi ro Rủi ro là sự kiện xảy ra ngoài ý muốn và đem lại những hậu quả bất lợi trong hoạt động kinh doanh của NHTM.
Rủi ro là những điều không mong muốn nên con người luôn cố gắng dự đoán trước những rủi ro có thể xảy ra và tìm cách phòng ngừa cũng như ngăn chặn chúng để hạn chế một cách tối thiểu. Xuất phát từ đặc trưng của rủi ro, chúng ta có thể thống kê những nhân tố tác động đến rủi ro, từ đó xây dựng kế hoạch nhằm xác định những tác động bất lợi mà rủi ro gây ra. Quá trình này được gọi là quản trị rủi ro. Qua đó có thể nêu định nghĩa khái quát về quản trị rủi ro: Quản trị rủi ro là việc dự đoán những khả năng và mức độ hậu quả của sự việc có thể xảy ra, từ những dự đoán này áp dụng những biện pháp để làm giảm độ không an toàn và thay đổi cách xem xét và hành động đới với sự việc.
Trên thực tế, chúng ta thường gặp các hình thức xử lý rủi ro như sau: - Ngăn chặn, làm triệt tiêu nguyên nhân, điều kiện nảy sinh rủi ro - Làm giảm thiểu tối đa đối với những rủi ro mà nếu ta áp dụng biện pháp để ngăn chặn hiệu quả sẽ thấp vì chi phí cho việc ngăn chặn này sẽ lớn hơn hậu quả của rủi ro có thể xảy ra - Làm giảm tác hại của rủi ro - Chuyển giao rủi ro - Chấp nhận những rủi ro có khả năng và mức độ xảy ra thấp, vì chi phí cho việc quản trị rủi ro này cao hơn hậu quả có thể xảy ra. Rủi ro tín dụng Đặc thù của ngân hàng là kinh doanh loại hàng hóa đặc biệt “tiền tệ” nên có 9 rất nhiều loại rủi ro khác nhau như: RRTD, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh toán, rủi ro hối đoái, rủi ro ngoại bảng, rủi ro công nghệ. Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng là hoạt động kinh doanh chủ yếu, phát sinh giao dịch thường xuyên và có doanh số giao dịch lớn nhất, đem lại lợi nhuận cho ngân hàng, thường chiếm từ 60% - 80% tổng thu nhập của NHTM. Hơn nữa, nó rất nhạy cảm với sự biến động và liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế.
Mặt khác còn chịu tác động của nhiều nhân tố như chính trị, xã hội… nên là hoạt động chứa đựng, tiềm ẩn rủi ro vô cùng lớn, thậm chí có thể dẫn đến phá sản. Đúng như lời Peter Rose đã trình bày trong cuốn sách “Quản trị ngân hàng thương mại” như sau: “Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng là hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng nhưng cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro rất lớn”. Theo ngân hàng thế giới (The World Bank ): RRTD tức là việc chi trả một khoản tín dụng bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không chi trả được toàn bộ. Điều này gây ra sự cố đối với dòng lưu chuyển tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng.
Từ những điều trên, chúng ta có thể tóm tắt lại những nội dung cơ bản như sau: RRTD là những thiệt hại kinh tế mà NHTM phải gánh chịu do khách hàng vay vốn sai hẹn trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ vốn gốc và nợ lãi hoặc không hoàn trả được nợ vay của ngân hàng so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. Các ngân hàng coi RRTD là một tất yếu, không thể loại bỏ hoàn toàn ra khỏi hoạt động của mình. Họ phải chấp nhận sự tồn tại của nó và tìm mọi phương thức để có thể hạn chế đến mức thấp nhất RRTD. Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập, tính cạnh tranh khốc liệt trong hệ thống ngân hàng, các hoạt động tín dụng ngày càng chứa đựng nhiều rủi ro hơn.
RRTD là loại rủi ro phức tạp nhất, quản lý và phòng ngừa khó khăn nhất. Trong bối cảnh đó, việc thiết lập một phương thức quản trị RRTD hiệu quả là trọng tâm của các ngân hàng. Phân loại rủi ro tín dụng RRTD của ngân hàng khá đa dạng và phức tạp. Do đó, tùy thuộc vào mục đích quản lý, nghiên cứu, tiêu chí mà được phân loại theo các cách khác nhau.
Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, gồm có: - Rủi ro giao dịch: là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có 03 bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. + Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. + Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản bảo đảm, chủ thể bảo đảm, cách thức bảo đảm và mức cho vay trên giá trị của tài sản bảo đảm.
+ Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề. - Rủi ro danh mục: là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành 02 loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. + Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn.
+ Rủi ro tập trung: là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. 11 Căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng Rủi ro đọng vốn: Đây là rủi ro khi thiết lập mối quan hệ tín dụng, ngân hàng và khách hàng phải quy ước về khỏan thời gian hoàn trả nợ vay. Tuy nhiên, đến thời hạn trả nợ vay, ngân hàng không thu hồi lại được vốn. Điều này ảnh hưởng đến việc sử dụng vốn vay của ngân hàng đồng thời ảnh hưởng đến kế hoạch đầu tư của Ngân hàng làm cho Ngân hàng mất đi nguồn thu mới.
Rủi ro do mất khả năng chi trả: Là rủi ro xảy ra khi khách hàng mất khả năng trả nợ cho ngân hàng làm cho ngân hàng tăng chi phí do phải trích lập dự phòng rủi ro, chi phí cho việc thu hồi nợ, dòng tiền của ngân hàng bị giảm sút, doanh thu giảm. Rủi ro không giới hạn ở hoạt động cho vay: Bao gồm các hoạt động khác mang tính chất tín dụng của các ngân hàng như bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, cho vay thị trường liên ngân hàng… 1. Nguyên nhân rủi ro tín dụng Kinh doanh Ngân hàng cũng giống như bất kỳ các hoạt động kinh doanh khác luôn luôn đối diện với rủi ro. Vì vậy, việc nhận diện những nguyên nhân gây ra rủi ro rất quan trọng, trên cơ sở đó mà Ngân hàng đưa ra biện pháp phòng ngừa hiệu quả và giảm thiệt hại cho chính bản thân mình.
Có các nhóm nguyên nhân cơ bản sau: Nguyên nhân khách quan Chính sách kinh tế của Nhà nước (như chính sách về tỷ giá, về lãi suất…) phải thay đổi cho phù hợp với những biến động về kinh tế, chính trị trên thế giới vì nếu nền kinh tế có biến động mà Nhà nước không có những chính sách điều hành đúng đắn và kịp thời nhằm can thiệp vào nền kinh tế thì tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn, dẫn đến khả năng trả nợ lãi và gốc cho Ngân hàng bị hạn chế và nguy cơ xảy ra rủi ro tín dụng là cao. Mặc dù luật các TCTD và các văn bản hướng dẫn thi hành có quy định việc TCTD có quyền xử lý TSBĐ của KH khi KH không trả nợ vay nhưng vẫn còn nhiều vướng mắc trong quá trình thực hiện. Thực tiễn cho thấy TCTD không có chức năng trực tiếp cưỡng chế mà phải thông qua Tòa án xử lý , thời gian chờ Tòa 12 án thụ lý hồ sơ là cả một quá trình và việc tiến hành phát mãi, xử lý TSBĐ vẫn còn nhiều vấn đề gây ra sự chậm trễ trong việc thu hồi nợ vay. Đối với hầu hết các Ngân hàng khi có rủi ro tín dụng xảy ra sẽ tiến hành thu hồi nợ bằng nhiều biện pháp và TSBĐ là nguồn thu nợ hữu hiệu nhất đối với các TCTD.
Những khủng hoảng về kinh tế thế giới, kinh tế trong nước, biến động của thị trường, tác động xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là nguyên nhân dẫn đến tình trạng doanh nghiệp không đảm bảo khả năng thanh toán nợ vay cho Ngân hàng và rủi ro tín dụng xảy ra. Bên cạnh đó thiên tai, những thay đổi bất thường về thời tiết, tác động xấu đến điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng là nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng cho Ngân hàng. Bởi vì, khi doanh nghiệp bị khó khăn do ảnh hưởng của thiên tai, thời tiết…dẫn đến khả năng trả nợ của KH bị hạn chế và nguy cơ mất vốn của Ngân hàng là tương đối cao. Nguyên nhân chủ quan - Từ phía khách hàng vay vốn: + Khách hàng gặp rủi ro trong hoạt động kinh doanh do trình độ và khả năng quản lý còn yếu kém.
Việc xây dựng và triển khai các phương án, dự án đầu tư sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chưa khoa học, việc dự toán chi phí và xác định mức sản lượng không phù hợp với điều kiện, tình hình thực tế của thị trường. + Khách hàng vay sử dụng vốn vay không đúng mục đích: Ngân hàng cấp tín dụng cho KH trên cơ sở phương án sử dụng vốn vay có hiệu quả.