CHƯƠNG 1: CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU [16]Một châu Âu hòa bình - Mục tiêu ban đầu của sự hợp tác (1945- 1959). Ý tưởng hợp nhất châu Âu thành một liên minh với hy vọng về hòa bình và hiểu biết lẫn nhau nhằm tránh mọi nguy cơ xung đột, không còn cảnh chiến tranh tàn phá đã được hình thành từ rất lâu. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, châu Âu lập lại trật tự thế giới mới với một bên là Tây Âu thân Mỹ và bên kia là Đông Âu chịu ảnh hưởng của Liên Xô. Đến năm 1946, do hậu quả nghiêm trọng của chiến tranh tác động đến nền kinh tế của các quốc gia châu Âu, đồng thời thị trường trong nước đã trở nên quá chật hẹp, các nhà lãnh đạo châu Âu đã mong muốn tạo lập một châu Âu thống nhất theo mô hình Liên bang châu Âu (United State of Europe).
Năm 1950, một liên minh đã ra đời dưới tên gọi Cộng đồng than thép châu Âu dựa trên hợp tác hai nguồn nguyên liệu chính của nền kinh tế lúc bấy giờ với 6 nước thành viên tham gia. Tiếp đó, nhằm tránh những ảnh hưởng tiêu cực của Chiến tranh lạnh, châu Âu đã tiến tới sự liên kết chặt chẽ hơn thông qua hợp tác kinh tế. Đến năm 1957, Hiệp ước Roma đã được 6 nước nhất trí thông qua với sự ra đời của EEC, hay còn gọi là "thị trường chung". Thời kỳ tăng trưởng kinh tế ở châu Âu (1960-1969).
Nền kinh tế châu Âu lúc này đang trong giai đoạn thăng hoa nhờ việc dỡ bỏ hàng rào thuế quan trong trao đổi thương mại nội khối. Bên cạnh đó, nhằm xóa cảnh nghèo đói ở các quốc gia thành viên, các nước châu Âu đã tiến tới thỏa thuận kiểm soát, hỗ trợ sản xuất và tiêu thụ nông sản trong khối. Và kết quả là châu Âu đã trở thành lục địa xuất siêu về nông sản. Cộng đồng mở rộng lần thứ nhất (1970-1979) - Tháng 1-1973, cộng đồng châu Âu tiến hành việc lần đầu tiên mở rộng khối, đưa số thành Downloaded by BACH VAN (bachvan12@gmail.com) lOMoARcPSD|38895030 4 viên lên 9 nước.
Song, tăng trưởng kinh tế của châu Âu không mấy thuận lợi do xung đột diễn ra giữa Israelvà các nước Ả-rập vào tháng 10-1973, dẫn đến cuộc khủng hoảng năng lượng trên thế giới. Trong khi đó, lực lượng cánh hữu ở châu Âu đang đi tới hồi kết khi chế độ Salazar Bồ Đào Nha bị lật đổ vào năm 1974, và sau cái chết của Tướng Franco ở Tây Ban Nha vào năm 1975. Trong giai đoạn này, cộng đồng hướng sự quan tâm tới các chính sách vùng, thúc đẩy kinh tế ở những vùng kém phát triển nhằm thu hẹp khoảng cách giàu nghèo thông qua các dự án hỗ trợ việc làm, cải thiện kết cấu hạ tầng. Năm 1979, Nghị viện châu Âu lần đầu tiên áp dụng chế độ bầu cử trực tiếp; vai trò của Nghị viện được tăng cường đối với các vụ việc trong nội bộ liên minh.
Một châu Âu đầy biến động (1980-1989) - Tháng 9-1989, chính trường châu Âu trở nên phức tạp do sự sụp đổ của bức tường Berlin, bức tường ngăn cách Tây Đức và Đông Đức trong suốt 28 năm. Trước đó, năm 1981, Hy Lạp trở thành thành viên thứ 10 của EU; 5 năm sau đến lượt Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Năm 1986, Hiệp ước về “châu Âu duy nhất” được thông qua nhằm xóa bỏ những rào cản về lưu thông tự do hàng hóa trong liên minh trong vòng 6 năm; cùng sáng kiến thành lập "thị trường duy nhất" của châu Âu cũng được thông qua. Châu Âu không biên giới: (1990-1999) - Thị trường chung đã được hoàn tất vào năm 1993 với 4 quyền tự do lưu thông hàng hóa, dịch vụ, vốn và con người.
Hai Hiệp ước đã được các nước châu Âu ký kết là Hiệp ước Maastricht (năm 1993) đánh dấu bước chuyển tiếp từ một cộng đồng kinh tế (EEC) sang liên minh chính trị với các giá trị chung (EU); và Hiệp ước Amsterdam (năm 1997) khẳng định nguyên tắc tự do, dân chủ, tôn trọng nhân quyền, đưa ra khái niệm phát triển bền vững, đặc biệt là việc cải cách thể chế của EU. Người dân châu Âu lúc này quan tâm tới vấn đề bảo vệ môi trường, những giải Downloaded by BACH VAN (bachvan12@gmail.com) lOMoARcPSD|38895030 5 pháp chung nhằm bảo đảm an ninh và phòng vệ. Năm 1995, EU tiếp nhận thêm 3 nước thành viên mới. Liên minh thống nhất gọi chung các hiệp ước quy định về quyền tự do đi lại của công dân châu Âu trong nội bộ khối dưới cái tên "Xchen-giơ" (Schengen).
Hàng triệu sinh viên được tham gia các khóa học ở bất kỳ nước nào trong khối nhờ sự liên kết, hỗ trợ của EU; trong khi đó, điện thoại di động cùng mạng In-tơ-nét đã giúp người dân châu Âu liên lạc một cách dễ dàng hơn. Một thập kỷ mở rộng (từ năm 2000 đến nay) - Phần lớn các nước thành viên EU thay thế đồng nội tệ bằng đồng tiền chung châu Âu, đồng euro. Song, trong khi các nước EU đang bận rộn làm quen với việc sử dụng đồng tiền mới với những tác động tích cực lẫn tiêu cực đối với thị trường tài chính khu vực, các nhà lãnh đạo EU lại phải tính đến việc tăng cường hợp tác an ninh sau sự kiện nước Mỹ bị tấn công ngày 11-9-2001. Các nước thành viên EU tích cực tham gia cuộc chiến chống tội phạm, hoạt động khủng bố trong khu vực và trên thế giới.
Năm 2004, sự phân chia giữa Tây Âu và Đông Âu đã được khép lại với sự gia nhập của 10 nước Đông Âu vào mái nhà chung châu Âu. Nhiều nước EU cho rằng đã đến lúc EU cần một bản Hiến pháp chung, nhưng điều này thật khó thực hiện khi chưa có sự đồng lòng của người dân trong toàn liên minh. Đời sống của người dân thời gian này được cải thiện rõ rệt. Các trường học và nhà ở đều nối mạng Internet.
Giới trẻ châu Âu có thể trao đổi tài liệu hay nhắn tin qua mạng. Đầu đĩa DVD và vô tuyến màn hình phẳng, rộng đã trở thành phương tiện giải trí thông dụng của người dân ở đây. Và đến tháng 1- 2007, số thành viên của EU lên đến 27 nước với sự gia nhập của hai nước thành viên mới là Bulgaria và Romania[16]. Downloaded by BACH VAN (bachvan12@gmail.com) lOMoARcPSD|38895030 6 Downloaded by BACH VAN (bachvan12@gmail.com) lOMoARcPSD|38895030 7 CHƯƠNG 2: BA THÁCH THỨC LỚN – BA CUỘC KHỦNG HOẢNG Thế kỷ 21 đã đặt trước mắt Liên minh Châu Âu (EU) một loạt thách thức đáng kể, khiến cho sự thống nhất và phát triển của liên minh gặp phải những thử thách không nhỏ.
Trong số đó, ba vấn đề nổi bật đã làm rung chuyển nền kinh tế và chính trị châu lục: khủng hoảng nợ công, khủng hoảng di cư và khủng hoảng năng lượng, bên cạnh đó là những thách thức mới như những thách thức về kinh tế, vấn đề Brexit,…những vấn đề trên – tuy mới mà cũ – khiến cộng đồng EU chao đảo, đời sống chính trị, kinh tế, xã hội ở khu vực gặp nhiều những biến động, đe doạ sự tồn vong của một trong những tổ chức, liên minh hàng đầu thế giới xuyên suốt hơn 6 thập kỷ vừa qua. Ba cuộc khủng hoảng lớn của Châu Âu 2.1 Khủng hoảng năng lượng Nguồn gốc Châu Âu đã phải phụ thuộc nguồn dầu mỏ bên ngoài từ thế kỷ 19 và đến nay vẫn chưa tìm ra lời giải cho bài toán năng lượng. Than đá từng đóng vai trò quan trọng cho sự trỗi dậy của Tây Âu. Nếu không có quá trình công nghiệp hóa sử dụng than đá, Anh sẽ không bao giờ trở thành cường quốc kinh tế trong thế kỷ 19.
Không có thời điểm nào trong suốt hai cuộc thế chiến, Anh và Pháp đảm bảo đủ nguồn cung từ Trung Đông để thoát phụ thuộc vào nguồn dầu nhập khẩu từ Tây bán cầu, cũng như từ Liên Xô từ cuối những năm 1920 tới giữa những năm 1930[7]. Những năm 1950, Tây Đức trải qua một giai đoạn phục hồi kinh tế đáng kinh ngạc. Các ngành công nghiệp được thúc đẩy như thép phát triển thịnh vượng, nhưng họ cần nhiều năng lượng hơn để cung cấp năng lượng cho nền kinh tế đang phát triển của mình. Trong khi đó, ở phía tây Siberia, Liên Xô vừa phát hiện ra trữ lượng khí đốt tự Downloaded by BACH VAN (bachvan12@gmail.com) lOMoARcPSD|38895030 8 nhiên khổng lồ.
Họ có một mạng lưới đường ống cung cấp cho các thành phố lớn của Liên Xô, nhưng mở rộng đường ống của họ tới khách hàng tiềm năng ở châu Âu sẽ là một dự án cơ sở hạ tầng khổng lồ. Sau đó, vào năm 1969, Tây Đức đã bầu một thủ tướng với chính sách đối ngoại mới gọi là Ostpolitik, tập trung vào việc đưa hai bên xích lại gần nhau hơn thông qua đối thoại và thỏa thuận. Năng lượng mang đến một cơ hội tuyệt vời, và Tây Đức và Liên Xô đã ký một thỏa thuận. Liên Xô sẽ cung cấp cho Tây Đức khí đốt tự nhiên và đổi lại, Tây Đức sẽ cung cấp các ống thép chất lượng cao để mở rộng đường ống.
Đó là một thỏa thuận lớn kéo dài 20 năm. Theo sau đó, các nước Tây Âu lần lượt hợp tác dầu mỏ với Liên Xô. Mối quan hệ khí đốt Tây Âu - Liên Xô ra đời. Để hiểu thỏa thuận này đã ràng buộc Đức, Tây Âu như thế nào, điều quan trọng là phải hiểu điều gì làm cho khí đốt tự nhiên trong đường ống khác với các nguồn năng lượng khác.
Khí đốt tự nhiên, cùng với than đá và dầu mỏ, là một trong ba loại nhiên liệu hóa thạch chính được sử dụng trên toàn thế giới. Nhưng không giống như than và dầu, có thể được vận chuyển hoặc định tuyến lại trên toàn thế giới, khí đốt tự nhiên qua đường ống là một sản phẩm khu vực phụ thuộc vào khoảng cách gần. Để vận chuyển nó, các nhà sản xuất khí đốt tự nhiên chi hàng triệu đô la để xây dựng các đường ống kết nối người mua và nhà sản xuất. Bởi vì đường ống này là một loại hàng hóa lớn và phổ biến, nên một thỏa thuận khí đốt có thể liên kết cơ sở hạ tầng năng lượng của người mua với người bán trong nhiều thập kỷ.
Và tất nhiên, điều này tạo nên một khía cạnh rất tiêu cực, sự phụ thuộc (ỷ lại)[14]. Hình minh họa: Từ trái sang Downloaded phải: by BACH VAN Than đá, Dầu, Khí đốt (bachvan12@gmail.com) lOMoARcPSD|38895030 9 Và đến những năm 1990, nó đã cung cấp cho Đức 40% kh椃Ā đốt. Sau đó Liên Xô sụp đổ. Tập đoàn nhà nước của Nga, Gazprom, đã tiếp quản các đường ống dẫn kh椃Ā đốt cũ của Liên Xô, nhưng bản đ đã được vẽ lại.