mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn đƣợc bố trí gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1 - Một số vấn đề lý luận về tạo động lực thúc đẩy ngƣời lao Luan van 3 động trong các doanh nghiệp Chƣơng 2 - Thực trạng tạo động lực thúc đẩy ngƣời lao động tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn –Hà Nội, chi nhánh Đà Nẵng Chƣơng 3 - Một số giải pháp nhằm tạo động lực thúc đẩy ngƣời lao động tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn- Hà Nội, chi nhánh Đà Nẵng. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Liên quan đến nội dung trên đã có nhiều công trình trong và ngoài nƣớc, lý thuyết và thực tiễn nghiên cứu. Giữa động cơ và động lực thúc đẩy có mối quan hệ với nhau rất chặt chẽ. Do vậy, để có thể đi sâu tìm hiểu động lực thúc đẩy thì không thể bỏ qua việc tìm hiểu động cơ thúc đẩy.
Về vấn đề này, đã có nhiều thuyết nghiên cứu và đƣa ra các quan niệm khác nhau. Ví dụ, thuyết về nội dung của động cơ thúc đẩy, các thuyết tiến trình về động cơ thúc đẩy và thuyết tăng cƣờng động cơ thúc đẩy [2]. + Thuyết về nội dung của động cơ thúc đẩy Thuyết này tập trung phân tích những nhu cầu bên trong của con ngƣời, là cái tạo ra động cơ thúc đẩy con ngƣời. Ở bất kỳ giai đoạn nào thì con ngƣời cũng đều có các nhu cầu cơ bản nhƣ ăn, sự thành đạt hay tiền bạc.
Những nhu cầu này đã trở thành động cơ bên trong thúc đẩy nỗ lực hành động theo xu hƣớng nhằm thỏa mãn nhu cầu. Từ việc hiểu biết nhu cầu của nhân viên, nhà quản trị xây dựng hệ thống phần thƣởng trong tổ chức nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ qua đó tạo động lực làm việc cho ngƣời lao động, hƣớng sự nỗ lực của họ đến việc hoàn thành mục tiêu của tổ chức. + Các thuyết tiến trình về động cơ thúc đẩy Các thuyết này giải thích làm thế nào nhân viên lựa chọn các hành vi để đáp ứng các nhu cầu của họ và xác định liệu những lựa chọn của họ có thành Luan van 4 công hay không, nghĩa là quan tâm đến tiến trình tƣ duy của con ngƣời .(Thuyết công bằng của J. Stacy Adams, thuyết kỳ vọng của Victor Vroom, mô hình về sự kỳ vọng của Porter – Lawer).
+ Thuyết tăng cường động cơ thúc đẩy Thuyết này chỉ ra rằng hành vi là một chức năng chịu sự chi phối của hậu quả (phần thƣởng hay hình phạt). Những hành vi đƣợc khen thƣởng là những hành vi đƣợc khuyến khích lặp lại, còn những hành vi bị phạt là những hành vi cần tránh. Nhƣ vậy, lý thuyết tăng cƣờng chú trọng mối quan hệ giữa hành vi và kết quả, nó tập trung vào việc thay đổi hoặc sửa chữa hành vi của nhân viên đối với công việc thông qua việc sử dụng phần thƣởng hay hình phạt một cách thích hợp. Trong kinh tế, động cơ là cái có tác dụng chi phối, thúc đẩy ngƣời ta suy nghĩ và hành động.
Động cơ là sự quy định về mặt chủ quan hành vi con ngƣời bởi thế giới. Có thể nói, ngƣời lao động có động cơ làm việc một cách tự nhiên. Động cơ này bắt nguồn từ một thực tế là mọi ngƣời đều mong muốn đƣợc khẳng định bản thân mình, đƣợc thành đạt, đƣợc tự chủ và có thẩm quyền đối với công việc của mình, cũng nhƣ muốn có thu nhập đảm bảo cuộc sống cá nhân sung túc. Chính vì vậy, để ngƣời lao động làm việc tốt thì ngƣời quản lý cần loại trừ những hoạt động tiêu cực có thể triệt tiêu động cơ làm việc của họ.
Kế tiếp, cần phải phát triển những yếu tố thực sự có thể thúc đẩy họ làm việc [6] Theo Tự điển Tiếng Việt, động lực là năng lƣợng làm cho máy móc chuyển động, là cái thúc đẩy, làm cho phát triển. TS Bùi Anh Tuấn thì cho rằng động lực lao động là những nhân tố kích thích con ngƣời nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức cũng nhƣ bản thân ngƣời lao động [8]. Luan van 5 Tác giả đồng ý với nhận định: Động lực là cái thúc đẩy, kích thích người lao động làm việc và cống hiến.
Cần tạo động lực làm việc cho ngƣời lao động để họ nỗ lực, hợp tác và gắn bó lâu dài với tổ chức. - Động lực thúc đẩy trong kinh tế Muốn có động lực thì phải giải quyết vấn đề thỏa mãn nhu cầu của ngƣời lao động. Các giải pháp nhằm để thỏa mãn nhu cầu phải bao gồm những lợi ích về vật chất, tinh thần đem lại cho ngƣời lao động, phải phù hợp với ý chí, nguyện vọng của ngƣời lao động.Nhờ vậy mới có thể khuyến khích và tạo ra động lực đúng đắn , thúc đẩy khơi dậy mọi tiềm năng, nguồn lực của cá nhân, tập thể nhằm đạt những mục tiêu đề ra. - Động lực thúc đẩy trong các doanh nghiệp Trên cơ sở những thuyết nghiên cứu về động cơ thúc đẩy, đã có rất nhiều công trình, tác phẩm nghiên cứu về động lực thúc đẩy.
Có nhiều công cụ để tạo động lực thúc đẩy ngƣời lao động đã đƣợc đề xuất. + Động lực thúc đẩy trong các doanh nghiệp nói chung Việc tạo động lực thúc đẩy ngƣời lao động có thể thực hiện bằng nhiều cách. Yếu tố vật chất đƣợc sử dụng bằng cách làm tốt công tác trả lƣơng cho ngƣời lao động. Yếu tố tinh thần, cải thiện điều kiện làm việc, sự thăng tiến hợp lý và sự thay đổi vị trí làm việc cũng đƣợc xem nhƣ là những cách thức để tạo động lực thúc đẩy ngƣời lao động.
Những vấn đề này đƣợc tác giả Nguyễn Văn Long đề cập [6]. Nội dung yếu tố tạo động lực nổi bật nhất tại nơi làm việc chỉ đơn giản là những tiến bộ trong công việc có ý nghĩa đã đƣợc hai Giáo sƣ Teresa Amabile và Steven Kramer nghiên cứu [15]. + Trong các cơ sở sản xuất, khai thác Việc trả công cho ngƣời lao động có ý nghĩa to lớn nhƣ một đòn bẩy Luan van 6 trong việc kích thích tính tích cực của ngƣời lao động. Bên cạnh đó, công tác đào tạo tạo điều kiện phát triển nguồn nhân lực theo hƣớng ngày càng hoàn thiện để thúc đẩy ngƣời lao động.
Thay đổi điều kiện sản xuất,thay đổi vị trí công việc, môi trƣờng văn hóa dân chủ công bằng cũng tạo động lực thúc đẩy ngƣời lao động. Yếu tố thăng tiến hợp lý, tổ chức các phong trào thi đua và tạo động lực bằng yếu tố tinh thần cho nhân viên cũng đƣợc chú ý. Các nội dung nói trên đã đƣợc các tác giả Nguyễn Thị Bích Hậu [3] nghiên cứu. + Trong lĩnh vực giáo dục Vấn đề tạo động lực thúc đẩy ngƣời lao động trong lĩnh vực giáo dục đƣợc nghiên cứu tƣơng đối đầy đủ.
Hoàn thiện công tác tiền lƣơng, chính sách hỗ trợ ngƣời đƣợc đào tạo, nâng cao đời sống tinh thần, thực hiện tốt công tác thăng tiến cán bộ, cải thiện điều kiện làm việc cho cán bộ giáo viên đã đƣợc tác giả Phạm Nguyễn Thị Hoàng Hoa [4] quan tâm đến nhƣ là các công cụ tạo động lực thúc đẩy cho ngƣời lao động. Biên chế, nhiệm kỳ đƣợc hai tác giả Brent Estes và Barbara Polnick [11] cho là có tác dụng nâng cao năng suất làm việc của giảng viên trong giáo dục đại học trên cơ sở phân tích thuyết mong đợi của Vroom. + Trong các tổ chức hành chính Yếu tố hiệu suất tổ chức trong khu vực công mở rộng đƣợc cho là có quan hệ với động lực làm việc. Phần thƣởng nội tại có liên quan đến kết quả tổ chức tốt hơn phần thƣởng bên ngoài.
Cả hai khả năng của cá nhân và đặc điểm nhân khẩu học là yếu tố quyết định cốt lõi đến động cơ thúc đẩy nhân viên (Tác giả Dimitris Manolopoulos [13] nghiên cứu.) + Trong các ngân hàng Các công cụ đƣợc đề nghị sử dụng để tạo động lực thúc đẩy ngƣời lao động là các khuyến khích tài chính (tiền lƣơng, tiền thƣởng, phúc lợi), các Luan van 7 khuyến khích phi tài chính (bản thân công việc, môi trƣờng làm việc, công tác đào tạo và đánh giá thực hiện công việc). Phần thƣởng, khuyến khích nhân viên và yếu tố tiểu sử (giới tính, tuổi tác, giáo dục, trình độ và mức độ thu nhập) có mối liên hệ chặt chẽ. Hệ thống khen thƣởng là giải pháp để tăng động lực của nhân viên tại các ngân hàng Nội dung này do hai tác giả Malik Muhammad Shafiq và Mohammad Akram Naseem [16] nghiên cứu. Từ những khái quát trên, có thể nói các công cụ đƣợc sử dụng để tạo động lực thúc đẩy ngƣời lao động là khác nhau giữa các loại hình doanh nghiệp.
Mặt khác, ngoài các công cụ thƣờng đƣợc sử dụng là tiền lƣơng, thì đời sống tinh thần, đánh giá thành tích, đào tạo, văn hóa công ty, điều kiện làm việc và thăng tiến cũng đƣợc quan tâm. Tuy nhiên, về vấn đề tạo động lực thúc đẩy ngƣời lao động tại ngân hàng SHB Đà Nẵng chƣa có tác giả nào nghiên cứu.Đó là lý do để tác giả chọn đề tài “Tạo động lực thúc đẩy ngƣời lao động tại ngân hàng thƣơng mại cổ phần Sài Gòn Hà Nội, chi nhánh Đà Nẵng (SHB Đà Nẵng) làm định hƣớng nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình. Luan van 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC THÚC ĐẨY NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT VỀ TẠO ĐỘNG LỰC THÚC ĐẨY NGƢỜI LAO ĐỘNG 1.
Nhân lực Theo từ điển tiếng Việt, Trung tâm Từ điển, Nhà xuất bản Đà Nẵng 1997 thì nhân lực là sức ngƣời , về mặt dùng trong lao động sản xuất. Theo sách Quản trị nhân lực, ĐH Kinh tế quốc dân, Hà Nội: Nhân lực là nguồn lực của mỗi con ngƣời, gồm thể lực và trí lực. Theo tác giả thì: Nhân lực là sức lực của mỗi con người, bao gồm sức mạnh cơ bắp, trí não và thần kinh của con người được sử dụng để phục vụ đời sống cho bản thân và tổ chức.