phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, cấu trúc luận văn bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về động lực làm việc của nhân viên trong doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng về động lực làm việc của nhân viên tại Vietcombank Kon Tum. Chƣơng 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao động lực làm việc cho nhân viên tại Vietcombank Kon Tum. Luan van 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA NHÂN VIÊN TRONG DOANH NGHIỆP 1.
KHÁI QUÁT VỀ TẠO ĐỘNG LỰC THỨC ĐẨY NHÂN VIÊN 1. Một số khái niệm a. Nhân lực Theo từ điển tiếng Việt, Trung tâm Từ điển, Nhà xuất bản Đà Nẵng 1977 thì nhân lực là sức ngƣời, về mặt dùng trong lao động sản xuất. Theo sách Quản trị nhân lực, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội thì nhân lực là nguồn lực của mỗi con ngƣời, gồm thể lực và trí lực.
Qua các định nghĩa có thế nói: Nhân lực là sức lực của mỗi con ngƣời, bao gồm sƣc mạnh cơ bắp, trí não và thần kinh của con ngƣời đƣợc sử dụng để phục vụ đời sống cho bản thân và tổ chức. Nguồn nhân lực "Nguồn lực con ngƣời" hay "nguồn nhân lực”, là khái niệm đƣợc hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con ngƣời với tƣ cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển: Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nƣớc gần đây đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với các góc độ khác nhau. Nguồn nhân lực, theo cách tiếp cận mới, có nội hàm rộng rãi bao gồm các yếu tố cấu thành về số lƣợng, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tính năng động xã hội, sức sáng tạo, truyền thống lịch sử và văn hoá. Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc:" Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con ngƣời hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng".
Theo sách Quản trị nhân lực, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội thì Luan van 10 nguồn nhân lực là tổng hợp cá nhân những con ngƣời cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần đƣợc huy động vào quá trình lao động. Từ những vấn đề trên ta có thể hiểu: ” Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con ngƣời (trƣớc hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động), gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con ngƣời nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức nhất định”. Nhu cầu của nhân viên Nhu cầu là một hiện tƣợng tâm lý của con ngƣời, là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con ngƣời về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Tuỳ theo trình độ nhận thức, môi trƣờng sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi ngƣời có những nhu cầu khác nhau.
Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một các gì đó mà con ngƣời cảm nhận đƣợc. Nhƣ vậy cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con ngƣời cảm nhận đƣợc đó là một trạng thái đặc biệt của con ngƣời, sự thiếu hụt ấy đòi hỏi phải đƣợc thoả mãn bù đắp. Do đó, nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con ngƣời hoạt động. Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con ngƣời ngày càng cao.
Về mặt quản lý, kểm soát đƣợc nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát đƣợc cá nhân (trong trƣờng hợp này, nhận thức có sự chi phối nhất định: nhận thức cao có khả năng kiềm chế sự thoã mãn nhu cầu). Nhu cầu một cá nhân đa dạng và vô tận, ngƣời quản lý chỉ kiểm soát những nhu cầu có liên quan đến hiệu quả làm việc của cá nhân. Nếu tìm cách thoã mãn nhu cầu nào đó của cá nhân đồng thời biết tạo ra một nhu cầu khác theo định hƣớng của mình thì ngƣời lãnh đạo có thể chi phối đƣợc các nhân. Một khi nhu cầu lao động đƣợc thoả mãn thì mức độ hài lòng của nhân viên về công việc và tổ chức của mình sẽ tăng lên và nhờ vậy họ sẽ gắn kết nhiều hơn với tổ chức, đợn vị.
Động cơ Động cơ là sinh lực thúc đẩy, định hƣớng và duy trì hành vi của con ngƣời hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình. Động cơ khó xác định vì nó luôn biến đổi theo thời gian, tại mỗi thời điểm con ngƣời sẽ có nhu cầu và động cơ khác nhau, khó có thể biết chính xác nhu cầu nào cụ thể ở từng thời điểm. Nó thƣờng đƣợc che dấu bản chất thực vì nhiều lý do khác nhau nhƣ: tâm lý, quan điểm xã hội… Động cơ rất phong phú đa dạng, phức tạp và thƣờng mâu thuẫn với nhau. Động lực Động lực là sự sẵn sàng nỗ lực làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức và thoả mãn đƣợc nhu cầu của bản thân nhân viên.
Động lực là những nhân tố bên trong kích thích con ngƣời làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Động lực là tất cả những gì thôi thúc con ngƣời, thúc đẩy con ngƣời hăng hái làm việc. Cho đến nay đã có nhiều khái niệm về động lực lao động, mỗi khái niệm đều có những quan điểm khác nhau nhƣng nhìn chung đều nói lên đƣợc bản chất của động lực lao động. Theo định nghĩa trong giáo trình Quản trị nhân lực của Đại học kinh tế quốc dân – Ths Nguyễn Vân Điềm & PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân, năm 2004 thì: “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của nhân viên đế tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức”.
Theo Giáo trình Hành vi tổ chức – PGS.TS Bùi Anh Tuấn, năm 2003 thì: “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực lao động là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức, cũng như của bản thân người lao động. Tạo động lực cho nhân viên Có thể nói động lực lao động là những nhân tố thôi thúc con ngƣời làm việc và giúp cho họ làm việc có hiệu quả nhằm đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức đồng thời cũng là để thỏa mãn mong muốn của bản thân nhân viên. Nó không chỉ chịu ảnh hƣởng bởi bản thân nhân viên mà còn chịu ảnh hƣởng lớn bởi những hoạt động quản lý nhân sự trong một tổ chức.
Nhân viên nếu không có động lực thì vẫn có thể hoàn thành công việc. Tuy nhiên, ngƣời lao động nếu mất động lực hoặc suy giảm động lực sẽ mất khả năng thực hiện công việc và có xu hƣớng ra khỏi tổ chức. Hoạt động của con ngƣời là hoạt động có mục đích. Vì vậy các nhà quản lý luôn tìm cách để trả lời câu hỏi là tại sao nhân viên lại làm việc.
Để trả lời đƣợc cho câu hỏi này họ phải tìm hiểu về động lực của nhân viên và tìm cách tạo động lực cho ngƣời lao động trong quá trình làm việc. Vậy vấn đề quan trọng của động lực đó là mục tiêu của nhân viên, nhƣng để đề ra đƣợc những mục tiêu phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của họ, tạo cho họ sự hăng say, nỗ lực trong quá trình làm việc thì nhà quản lý phải biết đƣợc mục đích hƣớng tới của nhân viên sẽ là gì. Việc dự đoán và kiểm soát hành động của nhân viên hoàn toàn có thể thực hiện đƣợc thông qua việc nhận biết nhu cầu, lợi ích và động cơ của họ. Qua đó ta có thể thấy, tạo động lực đƣợc hiểu là tổng thể các chính sách, biện pháp, công cụ, nghệ thuật quản lý tác động lên ngƣời lao động nhằm thúc đẩy họ phấn khởi, hăng say, tự nguyện hơn khi làm việc để thực hiện mục tiêu của tổ chức và ngƣời lao động một cách có hiểu quả.
Mối quan hệ giữa nhu cầu, động cơ và động lực Để tạo động lực làm việc hiệu quả, các nhà quản trị không chỉ nghiên cứu các nhu cầu, mong muốn mà quan trọng hơn là phải biết đƣợc mức độ nhu cầu muốn đƣợc thoả mãn của nhân viên để rồi từ đó đáp ứng một cách Luan van 13 kịp thời, thoả đáng, phù hợp với công sức đóng góp của họ. Hay nói cách khác, tạo động lực thúc đẩy nhân viên chính là nắm bắt đƣợc các nhu cầu làm phát sinh động cơ của nhân viên. Nhƣ vậy, giữa nhu cầu, động cơ và động lực có mối quan hệ khăng khít với nhau. Nếu không có nhu cầu sẽ không phát sinh động cơ và không có động lực.
Vai trò của động lực làm việc Đối với nhân viên : Động lực làm việc có vai trò quan trọng trong việc quyết định hành vi của ngƣời lao động. Khi ngƣời lao động có động lực làm việc thì họ sẽ say mê với công việc và nghề nghiệp của mình, do đó họ sẽ làm việc nhiệt tình hăng say hơn và có thể phát huy hết khả năng tiềm ẩn, nâng cao những khả năng hiện có của mình, nhờ đó mà những mục tiêu của tổ chức sẽ đƣợc thực hiện với hiệu quả cao. Động lực làm việc không chỉ giúp nhân viên kết hợp với nhau tốt hơn trong công việc mà còn tăng cƣờng sự gắn bó về mặt tinh thần trong một tập thể, cùng chung sức hỗ trợ vì mục tiêu chung. Nếu không có động lực làm việc, nhân viên sẽ làm việc theo hình thức đối phó, ảnh hƣởng đến không khí làm việc chung của tổ chức và mọi ngƣời xung quanh, hiệu quả công việc chắc chắn sẽ bị giảm sút.
Đối với tổ chức: Trong một doanh nghiệp thì nguồn nhân lực là bộ phận quan trọng không thể thiếu nên động lực làm việc của ngƣời lao động đóng vai trò quyết định sức mạnh của tổ chức. Động lực làm việc là cơ sở đem lại sự sáng tạo trong tổ chức: ngƣời có động lực làm việc thƣờng cảm thấy thoải mái và say mê với nhiệm vụ đƣợc giao. Chính vì vậy, họ luôn thể hiện tính sáng tạo trong công việc, từ đó giúp tổ chức có thêm những ý tƣởng sáng tạo, đổi mới, tạo ra sự đột phá trong tổ chức, giúp tổ chức thích ứng đƣợc với những thay đổi và chủ động tạo ra những thay đổi.