phần mở đầu và kết luận, đề án được kết cấu theo 3 chương: PHẦN 1: CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN PHẦN 2: NỘI DUNG CỦA ĐỀ ÁN PHẦN 3: ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ 6 PHẦN 1: CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1. CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Các khái niệm cơ bản 1. Động lực, động lực làm việc Động lực là từ được nhắc đến ở hầu hết mọi lĩnh vực của cuộc sống.
Các nhà quản trị luôn muốn tìm câu trả lời cho câu hỏi rằng động lực của NLĐ là gì? Có thể khái quát: Động lực là yếu tố bên trong của cá nhân mỗi NLĐ. Đó chính là những hoạt động có tính chất khuyến khích động viên nhằm tác động vào nhu cầu của NLĐ để tạo nên sự chuyển biến hành vi của họ hướng theo những mục tiêu mà doanh nghiệp mong muốn đạt được. Như vậy, động lực xuất phát từ chính bản thân mỗi người. Đây là một trạng thái nội tại, cung cấp sinh lực và hướng con người vào những hành vi có mục đích.
Ở những vị trí khác nhau với những đặc điểm tâm lý khác nhau, động lực của mỗi người cũng khác nhau. Đối với NLĐ trong mỗi doanh nghiệp động lực lao động có một số cách hiểu như sau: Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm (2012) cho rằng: “Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của NLĐ để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức”. Theo Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương (2011) trong cuốn Giáo trình hành vi tổ chức: “Động lực của NLĐ là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Như vậy mỗi lao động đảm nhiệm một công việc khác nhau có thể có động lực lao động khác nhau để làm việc tích cực hơn”.
Như vậy có thể rút ra một cách hiểu chung nhất: “Động lực làm việc là những mong muốn, khát khao của NLĐ được kích thích để họ nỗ lực hoạt động nhằm đạt được mục tiêu nhất định của cá nhân và doanh nghiệp. Người lao động Người lao động là một thuật ngữ được sử dụng để chỉ những người tham gia vào quá trình sản xuất, cung cấp dịch vụ hoặc lao động trong các lĩnh vực kinh tế. NLĐ thường làm việc trong một tổ chức, công ty, xí nghiệp hoặc tự làm chủ kinh doanh. Họ cung cấp sức lao động, kỹ năng và nỗ lực để thực hiện công việc và nhận được sự trả công từ nhà tuyển dụng hoặc từ hoạt động kinh doanh của mình.
NLĐ có thể làm việc trong nhiều ngành nghề khác nhau, từ sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, bán lẻ, giáo dục, y tế đến công nghệ thông tin và nghệ thuật. Các loại công việc và mức độ đóng góp của NLĐ vào quá trình sản xuất và phát triển kinh tế có thể khác nhau, từ lao động chân tay đơn giản đến công việc chuyên môn cao cấp 7 đòi hỏi kiến thức và kỹ năng chuyên môn. NLĐ có quyền nhận được mức lương, các quyền lợi lao động cơ bản, bảo vệ pháp lý và an toàn lao động. Qua lao động, họ đóng góp vào sự phát triển kinh tế, tạo ra giá trị và đảm bảo sinh kế của bản thân và gia đình.
Theo Khoản 1 Điều 3 Bộ Luật lao động năm 2019 của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thì: “NLĐ là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động. Độ tuổi lao động tối thiểu của NLĐ là đủ 15 tuổi”. NLĐ là người làm công ăn lương, đóng góp lao động và chuyên môn để nỗ lực tạo ra sản phẩm cho người sử dụng lao động và thường được thuê với hợp đồng làm việc (thỏa thuận) để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể nhằm hướng tới mục tiêu chung của doanh nghiệp, thường ở đây là lợi nhuận. Do vậy, NLĐ trong doanh nghiệp là những người làm việc tại doanh nghiệp, theo hợp đồng lao động, chịu sự điều hành của người quản lý doanh nghiệp.
Tạo động lực làm việc cho NLĐ Theo hai tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2012), tất cả những chính sách, hoạt động được doanh nghiệp thực hiện nhằm nâng cao tinh thần, thái độ, khả năng làm việc của nhân viên được gọi là tạo động lực làm việc cho nhân viên. Việc tạo động lực cho nhân viên được xem là rất quan trọng với doanh nghiệp, đối với một nhà lãnh đạo hay quản lý, có thể nói nhân viên chính là tài sản quan trọng giúp xây dựng và phát triển doanh nghiệp. Thế nên, nếu người quản lý biết cách truyền cảm hứng và động lực cho nhân viên sẽ góp phần giúp cho doanh nghiệp phát triển một cách nhanh chóng, hiệu quả và bền vững hơn. Theo Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Minh Nhàn (2016): “Tạo động lực làm việc là quá trình xây dựng, triển khai thực hiện và đánh giá các chương trình, biện pháp tác động vào những mong muốn, khát khao của NLĐ nhằm thúc đẩy họ làm việc để đạt các mục tiêu cá nhân và tổ chức, doanh nghiệp”.
Từ các khái niệm trên có thể hiểu rằng: Tạo động lực làm việc chính là việc nhà quản lý vận dụng các biện pháp, các chính sách, cách thức quản lý để tác động tới NLĐ nhằm làm cho NLĐ có động lực trong công việc, thúc đẩy sự hài lòng của họ đối với công việc và mong muốn được đóng góp cho tổ chức. Từ đó sẽ tác động tới năng suất, chất lượng, hiệu quả làm việc do vậy sẽ tác động tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Quản trị nhân lực Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điểm (2012) đưa ra quan điểm: Với tư cách là một trong những chức năng cơ bản của quá trình quản trị tổ chức thì Quản 8 trị nhân lực bao gồm việc hoạch định (kế hoạch hóa), tổ chức, chỉ huy và kiểm soát các hoạt động nhằm thu hút, sử dụng và phát triển con người để có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức. Cũng có thể hiểu quá trình khai thác và sử dụng nhân lực của một đơn vị hay một tổ chức một cách hợp lý và hiệu quả chính là Quản trị nhân lực.
Chức năng giải quyết tất cả các vấn đề liên quan tới con người gắn với công việc của họ; trong bất kỳ đơn vị hay tổ chức nào đó là một trong các chức năng cơ bản của quá trình quản lý. Như vậy, Quản trị nhân lực là quá trình xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát về các bước: Thu hút nhân lực, tuyển dụng và sử dụng, đào tạo và phát triển nhân lực, đãi ngộ và tạo động lực làm việc, đánh giá thực hiện công việc của một đơn vị hay tổ chức nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Quản trị nhân lực là một lĩnh vực khá phức tạp vì liên quan trực tiếp đến con người mà ở đó quá trình quản lý đòi hỏi sự pha trộn giữa khoa học và nghệ thuật. Các lý thuyết về tạo động lực làm việc Với mục đích tạo ra cơ sở để so sánh, đánh giá các chương trình, kế hoạch tạo động lực của Công ty TNHH Nice Ceramic học viên tổng hợp một số học thuyết về tạo động lực cho NLĐ bao gồm: Học thuyết nhu cầu của Maslow; Học thuyết hai nhân tố của Frederick Herzberg; Học thuyết kỳ vọng của Victor Harold Vroom; Học thuyết công bằng của J.
Học thuyết nhu cầu của Maslow Theo nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow, mỗi người đều có một tập hợp những nhu cầu rất đa dạng và được chia thành năm cấp độ từ nhu cầu thấp nhất đến nhu cầu cao nhất. Sự phân cấp nhu cầu của A. Maslow (Nguồn: Mai Thanh Lan - Nguyễn Thị Minh Nhàn, 2016) 9 Nhu cầu sinh lý: Đây là các nhu cầu cơ bản của con người như thức ăn, nước uống, quần áo, nhà ở, nghỉ ngơi. Trong tổ chức, các nhu cầu này được đáp ứng qua chế độ lương, thưởng, cung cấp bữa ăn miễn phí, và các hoạt động du lịch, giải trí nhằm duy trì cuộc sống của người lao động (NLĐ).
Nhu cầu an toàn: NLĐ mong muốn tránh các nguy hiểm, đe dọa mất việc, mất tài sản cá nhân. Tổ chức cần đảm bảo an toàn lao động, công việc ổn định và các chế độ bảo hiểm xã hội, y tế, thất nghiệp đầy đủ. Nhu cầu xã hội: Là mong muốn xây dựng các mối quan hệ với đồng nghiệp, lãnh đạo và khách hàng, nhằm chia sẻ cảm xúc và hợp tác. Việc duy trì mối quan hệ tốt đẹp giúp tạo ra sự gắn kết và đoàn kết trong tổ chức.
Nhu cầu được tôn trọng: Khi nhu cầu xã hội được thỏa mãn, con người sẽ mong muốn được tôn trọng. Tổ chức cần tôn trọng nhân phẩm, phẩm chất của NLĐ, đồng thời ghi nhận, khen thưởng thành tích, tạo cơ hội thăng tiến để khuyến khích sự phát triển cá nhân. Nhu cầu tự hoàn thiện: Đây là nhu cầu cao nhất, bao gồm việc phát triển bản thân, hiện thực hóa tiềm năng và sáng tạo. Tổ chức cần cung cấp cơ hội phát triển, đào tạo, và tạo điều kiện để NLĐ tham gia cải tiến công việc.
Theo học thuyết của Abraham Maslow, nhu cầu cấp thấp phải được đáp ứng trước khi nhu cầu cấp cao xuất hiện. Do đó, để thúc đẩy động lực làm việc của nhân viên, nhà quản trị cần nắm rõ nhu cầu vật chất và tinh thần của NLĐ, từ đó có biện pháp phù hợp để khuyến khích họ phát triển lên các bậc nhu cầu cao hơn. Học thuyết hai nhân tố của Frederick Herzberg Frederick Herzberg cho rằng các yếu tố tạo ra sự thỏa mãn rất khác biệt so với các yếu tố tạo ra sự bất mãn trong công việc và ông chia các yếu tố này thành hai nhóm là: nhóm các yếu tố thúc đẩy và nhóm các yếu tố duy trì. Mô hình hai nhóm yếu tố của Herzberg Các yếu tố thúc đẩy Các yếu tố duy trì Thành tích Chính sách và chế độ quản trị của tổ chức Sự công nhận Sự giám sát công việc Công việc có tính thử thách Điều kiện làm việc Trách nhiệm được gia tăng Những mối quan hệ giao tiếp trong tổ chức Sự thăng tiến Lương, thưởng Phát triển bản thân từ công việc Đời sống các nhân Địa vị Công việc ổn định (Nguồn: Giáo trình Quản trị nhân sự, 2016) 10 Nhóm các yếu tố thúc đẩy đều là những cảm nhận của con người liên quan đến bản thân công việc.