CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Nhu cầu Nhu cầu là trạng thái tâm lý mà con người cảm thấy thiếu thốn không thỏa mãn về một cái gì đó và mong muốn đáp ứng nó. Nhu cầu gắn liền với sự tồn tại và phát triển của con người, cộng đồng, tập thể và xã hội.[5, 102] Nhu cầu của người lao động rất đa dạng và phong phú, tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, đặc điểm tâm sinh lý cá nhân, mỗi người có những nhu cầu khác nhau. Nhu cầu được chia thành hai loại: Nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. - Nhu cầu vật chất Nhu cầu vật chất là tất cả những yếu tố vật chất cần thiết để con người tồn tại và phát triển trong điều kiện môi trường nhất định.
Đây là nhu cầu hàng đầu, là nền tảng cho hoạt động sống của con người. Theo đó, nhu cầu vật chất có trước nhu cầu tinh thần có sau. Trong “Hệ tư tưởng Đức” Mác và ĂngGhen đã viết: “Người ta phải sống được rồi mới làm ra lịch sử” nhưng muốn sống được thì phải có thức ăn, nước uống, nhà cửa, quần áo, …và một số thứ khác cần thiết cho cuộc sống hàng ngày. Như vậy, mọi người cần được thỏa mãn nhu cầu tối thiểu đó để tồn tại.
Cùng với sự tồn tại và phát triển của xã hội, các nhu cầu vật chất của con người ngày càng đa dạng. Nhưng những nhu cầu vật chất này được thỏa mãn nhu cầu khác lại xuất hiện, nó mới hơn và cũng có thể cao hơn. - Nhu cầu về tinh thần Nhu cầu về tinh thần của con người rất phong phú và đa dạng trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Nó ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội, tồn tại song song cùng nhau, nhu cầu tinh thần của con người bao gồm: Nhu cầu lao động, nhu cầu giao tiếp xã hội và nhu cầu công bằng xã hội.
Cốt lõi của “việc quản lý con người” là biết cách điều tiết nhu cầu của con người và biết từng bước thỏa mãn nhu cầu của con người, thông qua việc thỏa mãn đó mà hướng con người tham gia vào hoạt động nào đó.2 Động cơ Động cơ là mục đích chủ quan của hoạt động của con người, là động lực thúc đẩy con người hành động nhằm đáp ứng các nhu cầu đặt ra. Đó là tất cả những điều kiện phấn đấu nội tâm được mô tả như những ước muốn, mong muốn, ham muốn…vv mang đến trạng thái kích thích hay thúc đẩy hoạt động.[5, 102] Theo cách nhìn của quản trị thì một người có động cơ sẽ làm việc tích cực; duy trì tốc độ làm việc và hướng các hành vi, hoạt động để đạt được mục tiêu dự định. Vì vậy động cơ kéo theo sự nỗ lực, sự kiên trì và phấn đấu cho mục đích, trước hết là thỏa mãn được nhu cầu hiện tại, hay lợi ích hiện tại. Để khai thác được khả năng của con người, các nhà quản lý phải xác định được động cơ và tìm cách thỏa mãn những động cơ ấy càng nhiều càng tốt.
Tuy nhiên, động cơ thường rất trìu tượng và khó xác định bởi động cơ thường được che giấu do yếu tố tâm lý và quan niệm xã hội của từng cá nhân. Động cơ của con người thay đổi theo thời gian và môi trường sống, do đó khi xem xét, đánh giá các động cơ, cần thiết phải nhìn nhận con người một cách đúng đắn, tìm ra động cơ chủ yếu và cấp thiết để tạo ra động lực làm việc cao nhất. Hay nói cách khác, đó là việc tìm ra và thỏa mãn các lợi ích một cách thỏa đáng, bù đắp cho sức lao động đã bỏ ra của người lao động.3 Lợi ích Lợi ích là mức độ thỏa mãn nhu cầu của con người trong một điều kiện cụ thể nhất định.[5, 102] Lợi ích, trước hết là lợi ích kinh tế thể hiện rõ mối quan hệ giữa những người lao động với nhau, giữa người sử dụng lao động và người lao động trong quá trình lao động sản xuất. Nhu cầu và lợi ích có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, không có nhu cầu thì không nảy sinh lợi ích.
Hay có thể hiểu lợi ích là hình thức biểu hiện của nhu cầu. Lợi ích là mức độ thỏa mãn nhu cầu của con người, do đó lợi ích tạo ra động lực thúc đẩy người lao động làm việc hăng say hơn, hiệu quả lao động cao hơn. Mức độ thỏa mãn càng lớn thì động lực tạo ra càng mạnh và ngược lại. Như vậy, nhu cầu của con người tạo ra động cơ thúc đẩy họ ham muốn tham gia lao động.
Song, chính lợi ích của họ mới là động lực trực tiếp thúc đẩy họ làm 5 việc hiệu quả cao. Điều này đòi hỏi các nhà quản lý phải quan sát thực đến lợi ích của người lao động trong lợi ích của tập thể. Lợi ích sẽ tạo động lực trong lao động. Lợi ích tạo động lực vật chất, tinh thần cho người lao động.
Song, trong thực tế động lực tạo ra ở mức độ nào, bằng cách nào điều đó phụ thuộc vào cơ chế cụ thể để sử dụng nó như 1 nhân tố cho sự phát triển của doanh nghiệp. Mặt khác, muốn lợi ích tạo ra động lực cần phải tác động vào nó, kích thích nó, làm tang hiệu quả trong công việc, trong chuyên môn hoặc trong những chức năng cụ thể. Để khuyến khích người lao động, nhà quản lý dùng những hình thức và phương pháp khác nhau. Trong đó, đặc biệt khuyến khích về kinh tế và tâm lý lao động.
Hai loại khuyến khích này gắn chặt với lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần của người lao động, nó được coi như là một công cụ, một phương tiện, một cơ chế để có thể thực hiện những lợi ích của người lao động trong thực tiễn.4 Động lực Với quan điểm coi nguồn nhân lực là nhân tố hàng đầu quyết định đến sự tồn tại và phát triển của một tổ chức, một doanh nghiệp. Nhận thức được tầm quan trọng của con người, các nhà lãnh đạo ngày càng quan tâm đến việc làm thế nào để người lao động làm việc một cách nhiệt tình, hăng say, đạt kết quả cao, làm thế nào để có thể xây dựng một đội ngũ nhân sự tận tâm, cống hiến hết mình cho tổ chức, doanh nghiệp. Trong quá trình tìm hiểu đó các nhà lãnh đạo đã tìm ra được ngoài nguyên nhân về năng lực, trình độ của người lao động thì một trong những yếu tố góp phần quan trọng đó chính là động lực lao động. Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động.[6, 85] Như vậy động lực xuất phát từ bản thân mỗi con người. Khi con người ở những vị trí khác nhau với những tâm lý khác nhau sẽ có mục tiêu mong muốn khác nhau. Chính vì những đặc điểm này nên động lực của mỗi con người là khác nhau vì vậy các nhà quản lý cần có những cách tác động khác nhau tới mỗi người lao động.5 Tạo động lực cho người lao động Động lực có vai trò quan trọng vào việc nâng cao năng suất lao động của cá nhân giúp tổ chức đạt được mục tiêu của mình. Do vậy, các nhà quản lý cần phải biết tạo động lực cho nhân viên của mình để họ làm việc hiệu quả nhất.
Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc.[6, 87] Tạo động lực cho người lao động làm việc cũng chính là việc tạo ra sự hấp dẫn trong công việc từ kết quả thực hiện công việc, cùng tác động của tiền lương, tiền thưởng, phúc lợi, điều kiện và môi trường làm việc…để hướng hành vi của người lao động theo một chiều hướng nhất định. Tạo động lực cho người lao động vừa là trách nhiệm, vừa là mục tiêu của nhà quản lý. Khi có động lực làm việc thì sẽ thực hiện tốt công việc, làm tăng hiệu quả công việc, nâng cao năng suất lao động. Từ đó giúp doanh nghiệp, tổ chức tồn tại và phát triển vững mạnh trên thị trường cạnh tranh.
Do vậy các nhà lãnh đạo nói chung, các nhà quản lý lao động nói riêng muốn nhân viên trong doanh nghiệp của mình nỗ lực hết sức vì doanh nghiệp thì họ phải sử dụng tất cả các biện pháp khuyến khích đối với người lao động đồng thời tạo mọi điều kiện cho người lao động hoàn thành công việc của họ một cách tốt nhất. Qua đó người lao động nhận thức được tầm quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp.2 Nội dung tạo động lực cho người lao động trong các doanh nghiệp 1.1 Tạo động lực bằng vật chất Tạo động lực cho người lao động bằng yếu tố vật chất tức là dùng yếu tố vật chất để nâng cao tính tích cực làm việc của người lao động. Yếu tố vật chất được hiểu là: lương cơ bản, thưởng, các khoản phụ cấp, các khoản phúc lợi xã hội…Đây là những yếu tố con người cần phải có và dùng nó để thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu của mình. Chính vì vậy các yếu tố vật chất được sử dụng như là một đòn bẩy để kích thích tính tích cực của người lao động.1 Tạo động lực bằng lương Tiền lương là giá cả của sức lao động, được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa người lao động với người sử dụng lao động thông qua hợp đồng lao động, phù hợp với quan hệ cung - cầu sức lao động trên thị trường lao động và phù hợp với 7 các quy định tiền lương của luật lao động.
Ví dụ như việc trả lương cho người lao động trong các doanh nghiệp, văn phòng đại diện, cơ quan Nhà nước… Trong thực tiễn công tác tổ chức tiền lương tại các cơ quan, doanh nghiệp và thực tiễn các quá trình quan hệ lao động, tồn tại hai hình thức trả lương phổ biến đó là: Hình thức trả lương theo sản phẩm và hình thức trả lương theo thời gian. Việc lựa chọn áp dụng hình thức trả lương nào tùy thuộc vào yêu cầu của sản xuất, nhưng hình thức trả lương được lựa chọn phải đảm bảo: + Phù hợp với tính chất công việc + Phải có tác động khuyến khích người lao động quan tâm đến kết quả và hiệu quả lao động.