Chương 1: Giới thiệu: Tuyên bố lý do nghiên cứu, cơ sở lý luận, tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và đề cương nghiên cứu. ● Chương 2: Tổng quan lý thuyết: Định nghĩa khái quát về kỹ năng Nghe – Nói tiếng Anh và sự tăng cường tiếp xúc tiếng Anh, những phương pháp tự học. Trọng tâm là sự tiếp cận tiếng Anh bên ngoài lớp học, thái độ, đánh giá và những khó khăn chung mà sinh viên mắc phải trong quá trình tiếp xúc. ● Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: Trình bày phương pháp nghiên cứu, trình bày các nội dung về đối tượng nghiên cứu, phương pháp thu thập dữ liệu, quy trình thu thập dữ liệu và phương pháp phân tích dữ liệu.
● Chương 4: Kết quả nghiên cứu: Phân tích các dữ liệu và thảo luận kết quả nghiên cứu. ● Chương 5: Đề xuất và kết luận: Trình bày đề xuất dựa trên cơ sở phân tích kết quả nghiên cứu, kết luận, ý nghĩa sư phạm, những hạn chế và đề xuất ý tưởng cho những nghiên cứu tiếp theo. 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT Chương 2 - “Tổng quan lý thuyết” gồm nội dung chính là đưa ra định nghĩa khái quát về hai kỹ năng Nghe – Nói tiếng Anh, sự chủ động/ tính tự học và sự tăng cường tiếp xúc tiếng Anh, đồng thời đề cập đến những phương pháp rèn luyện cụ thể và phổ biến hiện nay. Trong đó, trọng tâm chính tập trung vào mức độ tiếp cận tiếng Anh bên ngoài lớp học, thái độ và đánh giá chung của sinh viên đối với hiệu quả của phương pháp tiếp xúc tiếng Anh đối với việc phát triển kỹ năng Nghe – Nói và cuối cùng là những khó khăn thách thức chung mà học sinh mắc phải trong quá trình tiếp xúc.
Kỹ năng Nghe – Nói tiếng Anh II. Kỹ năng Nói tiếng Anh Trong quá trình học ngoại ngữ nói chung và học tiếng Anh nói riêng, kỹ năng Nói là một kỹ năng quan trọng bởi tính ứng dụng cao. Kỹ năng Nói được định nghĩa là khả năng tạo ra ngôn ngữ bằng việc sử dụng môi, lưỡi, răng, thanh quản,. để tạo ra lời nói và truyền tải thông tin tới người nghe (Richard, 2008).
Mặt khác, thành thạo kỹ năng Nói là việc tạo ra và sắp xếp các từ ngữ trở thành một câu nói hoàn chỉnh, từ đó người nghe có thể nắm được ý của người nói. Vậy nên, trong quá trình Nói, người nói không chỉ bày tỏ được suy nghĩ của bản thân mà còn thể hiện sự nhuần nhuyễn trong cách dùng và sắp xếp trật tự từ ngữ và khả năng phát triển ý sao cho logic, mạch lạc. Theo Brown và Yule (1983), Nói là kỹ năng mà người học sẽ được thể hiện nhiều nhất trong quá trình giao tiếp. Kỹ năng Nói tiếng Anh có thể vừa giúp chúng ta giao tiếp trong đời sống hàng ngày, vừa giúp truyền tải thông tin một cách đầy đủ và chính xác nhất trong công việc.
Bên cạnh đó, việc diễn đạt ý tưởng bằng ngôn ngữ khác giúp chúng ta tự tin hơn về bản thân, thúc đẩy tinh thần tự học trong mỗi cá nhân và mở rộng các mối quan hệ xã hội trong các môi trường đa ngôn ngữ, đa văn hoá. Kỹ năng Nghe tiếng Anh Kỹ năng Nghe (cùng với kỹ năng Đọc) là một kỹ năng thụ động trong bốn kỹ năng tiếng Anh cơ bản (Djabborova, 2020). Điều này có nghĩa là người học 7 không cần phải tạo ra ngôn ngữ trong quá trình Nghe, thay vào đó họ chỉ sử dụng kiến thức ngôn ngữ có sẵn để tiếp nhận và hiểu thông tin. Tuy nhiên, Nunan (1998) cho rằng lắng nghe liên quan đến một quá trình tích cực giải mã và xây dựng ý nghĩa từ cả thông điệp bằng lời và không lời.
Thêm vào đó, Rost (1991) cũng chỉ rõ rằng Nghe là một quá trình tích cực đòi hỏi sự tham gia của người nghe. Saraswaty (2018) cũng khẳng định thêm khả năng hiểu thông tin của con người chủ yếu thông qua việc phân biệt âm thanh, vốn từ vựng sẵn có, cấu trúc ngữ pháp, trọng âm và ngữ điệu, những tín hiệu ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ trong từng hoàn cảnh. Do đó, kỹ năng Nghe tiếng Anh, không phải là một kỹ năng đơn giản hay biệt lập, và nhóm nghiên cứu chúng tôi cho rằng việc gắn mắc thụ động cho kỹ năng này cần được hiểu ở mức độ là không yêu cầu tạo ra một sản phẩm lời nói hay văn bản cụ thể, chứ không phải khi Nghe, người dùng tiếng Anh hoàn toàn không phải tư duy gì. Và đúng như vậy, tầm quan trọng của kỹ năng Nghe được khẳng định bởi rất nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ (Larsen-Freeman, 1986; Rost (1991); Yagang, 1994; Higgins, 1995; Hinkel, 2006).
Theo Rost (1991), kỹ năng Nghe rất quan trọng trong lớp học ngôn ngữ vì nó cung cấp thông tin đầu vào cho người học. Không hiểu đầu vào ở mức phù hợp, bất kỳ người học nào cũng không thể bắt đầu. Điều này đồng nghĩa với để có thể đạt mục tiêu giao tiếp trôi chảy, rõ ràng, và để hiểu thông điệp người nói thì điều quan trọng nhất là khả năng tiếp thu thông tin từ người nói thông qua việc Nghe. Rost (2011) cũng khẳng định rằng kỹ năng Nghe là lĩnh vực kỹ năng thể hiện ngôn ngữ và là phương tiện quan trọng để tiếp thu ngôn ngữ thứ hai.
Như vậy, không thể phủ nhận tầm quan trọng của nó so với các kỹ năng khác. Theo một kết quả nghiên cứu thú vị của Burely-Allen (1995), mọi người dành hơn 40% thời gian giao tiếp của họ cho việc Nghe, 35% cho việc nói, 16% cho việc đọc và chỉ 9% cho việc viết trong một ngày. Vì vậy, Nghe là một quá trình cơ bản thể hiện năng lực ngoại ngữ của người dùng và có vai trò không thể thiếu trong việc tạo ra ngôn ngữ nói hay văn bản viết. Quan trọng là như vậy, nhưng năng lực Nghe hiểu của nhiều sinh viên học tiếng Anh còn nhiều hạn chế.
Khả năng Nghe tiếng Anh bị hạn chế làm cho chất lượng giao tiếp giảm sút, tạo ra những rào cản tương tác gây khó khăn cho cả 8 người nói và người nghe; hay, dù người đối diện có khả năng nói rất tốt nhưng bạn không nghe được và không hiểu được ý của người nói thì cuộc giao tiếp này không coi là thành công. Ngoài ra, kỹ năng Nghe tiếng Anh hạn chế có khả năng làm cho người học mất tự tin, đánh giá thấp năng lực bản thân, từ đó giảm động lực học tập. Sự tự chủ của người học và học tập tự định hướng/ tự học Theo Johnson và Ewa (2018), tính tự chủ của người học liên quan đến khả năng người học tự kiểm soát quá trình học tập của mình, đưa ra quyết định và chịu trách nhiệm về kết quả học tập của mình. Còn theo như Benson và Voller (1997) sự tự chủ của người học (learner’s autonomy) là khả năng người đó tự có trách nhiệm đối với việc học của bản thân và nó đồng thời là một chỉ số để dự đoán về kết quả học tập của người đó.
Hai nhà nghiên cứu còn nhấn mạnh rằng đây là một cấu trúc đa chiều của năng lực người học, thể hiện qua những hình thức khác nhau đối với từng cá nhân. Hai khái niệm nữa cũng rất gần, rất liên quan tới tính tự chủ của người học đó là học tập tự định hướng (learner’s self-directed learning) hay tự học (learner’s self-study). Học tập tự định hướng hay còn gọi là tự học, là một quá trình trong đó các cá nhân tự chủ động, có hoặc không có sự giúp đỡ của người khác trong việc học tập của họ, bằng cách tự xây dựng mục tiêu học tập, xác định nguồn lực và vật chất cho việc học, lựa chọn và thực hiện các chiến lược học tập phù hợp và đánh giá việc học tập của chính mình (Hiemstra, 1994). Người có khả năng tự học không đơn thuần chỉ học dưới sự hướng dẫn của người khác mà họ sẽ khiến việc học diễn ra theo ý tưởng của bản thân mình.
Việc học được coi là kết quả của sự tương tác do chính họ thực hiện với thế giới tri thức bên ngoài (Thanasoulas, 2000). Chính vì vậy, việc tự học đóng vai trò không thể thiếu trong việc nâng cao kỹ năng Nghe – Nói tiếng Anh của sinh viên, giúp họ tự chủ, linh hoạt và tự tin trong việc sử dụng tiếng Anh trong công việc và cuộc sống. Bằng cách tự chủ động trong học tập, sinh viên phát triển được khả năng tư duy sáng tạo. Theo Candy (1991) việc tự học cho phép các cá nhân nắm quyền chủ động giáo dục học tập cho bản thân; bên cạnh việc giúp khám phá sở thích và phát triển các kỹ 9 năng tư duy phản biện, tự học còn thúc đẩy người học tự đặt mục tiêu, tìm kiếm tài nguyên và tích cực tham gia vào quá trình học tập của mình.
Trên thực tế, nguồn học liệu cũng như các công cụ, cách thức thực hành các kỹ năng tiếng Anh nói chung và kỹ năng Nghe – Nói nói riêng ngày càng nhiều, người học với khả năng tự học sẽ tận dụng được tối đa các nguồn học liệu đó một cách sáng tạo và hiệu quả nhất. Khả năng tự học đóng vai trò quan trọng trong việc trau dồi kiến thức trong cuộc sống. Người có khả năng tự học sẽ chủ động tạo ra những câu hỏi, ý tưởng và tận dụng các cơ hội học tập thay vì chỉ học theo hướng dân của giáo viên (Boud, 1988; Kohonen, 1992; Knowles, 1975). Khả năng tự học đóng vai trò như một tác nhân tích cực trong quá trình học tập của từng người.
Đặc biệt, trong cuốn sách của mình, Knowles (1975) đã nhấn mạnh vai trò của việc tự học trong sự phát triển và học tập suốt đời, việc tự học giúp cá nhân tự quản lý quá trình học tập của mình, thích ứng với môi trường khác nhau, và liên tục học hỏi kiến thức và kỹ năng mới. Ngôn ngữ luôn vận động và năng lực ngoại ngữ của người học có thể tăng lên hoặc giảm xuống tuỳ mức độ thường xuyên học tập và sử dụng sau những năm tháng học tiếng Anh tại trường. Vì vậy, sinh viên sở hữu năng lực tự học suốt đời sẽ có thế mạnh lớn trong việc tiếp tục học tập, duy trì và phát triển kỹ năng thực hành tiếng của mình. Tiếp xúc tiếng Anh bên ngoài lớp học và các cách thức tự học, tự tiếp xúc ngôn ngữ để phát triển kỹ năng Nghe – Nói.