CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN 1.1 Tổng quan lý luận về quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện 1.1 Ngân sách nhà nước 1.1 Khái niệm ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử; là một thành phần trong hệ thống tài chính. Thuật ngữ "Ngân sách nhà nước" được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia. Song quan niệm về ngân sách nhà nước lại chưa thống nhất, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về ngân sách nhà nước tùy theo các trường phái và các lĩnh vực nghiên cứu. Các nhà kinh tế Nga quan niệm: Ngân sách nhà nước là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của quốc gia.
Theo Luật ngân sách nhà nước năm 2002, NSNN được định nghĩa như sau : "Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước" [25]. Trong đó : Thu ngân sách nhà nước: Là tổng thể các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối nhằm tạo lập quỹ ngân sách nhà nước. Chi Ngân sách nhà nước: Là tập hợp các quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình sử dụng ngân sách nhà nước nhằm thực hiện các chức năng quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước.2 Đặc điểm của NSNN Ngân sách nhà nước là một bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia. Nó bao gồm những quan hệ tài chính nhất định trong tổng thể các quan hệ tài chính quốc gia, cụ thể : Một là, quan hệ tài chính giữa ngân sách nhà nước và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.
Quan hệ tài chính này phát sinh trong quá trình hình thành thu ngân sách nhà nước bằng hình thức thu thuế của tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. 6 Hai là, quan hệ tài chính giữa ngân sách nhà nước với các đơn vị quản lý Nhà nước, bao gồm các đơn vị sự nghiệp văn hoá xã hội, hành chính, an ninh quốc phòng. Những đơn vị này không sản xuất ra của cải vật chất nhưng hoạt động của nó lại rất cần thiết cho xã hội. Quan hệ kinh tế giữa ngân sách Nhà nước với những đơn vị này được phát sinh trong quá trình phân phối lại các khoản thu nhập bằng việc ngân sách Nhà nước cấp kinh phí cho các đơn vị quản lý Nhà nước theo dự toán kinh phí.
Ba là, quan hệ tài chính giữa ngân sách nhà nước với hộ gia đình và dân cư. Mối quan hệ này được thể hiện thông qua hình thức phân phối lại ngân sách Nhà nước. Một bộ phận dân cư làm nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước thông qua các khoản thuế, đóng góp tự nguyện, phí và lệ phí; Đồng thời một bộ phận dân cư khác lại nhận từ ngân sách Nhà nước các khoản trợ cấp xã hội theo chính sách quy định. Bốn là, quan hệ tài chính giữa ngân sách nhà nước với thị trường tài chính.
Nền kinh tế thị trường đòi hỏi không chỉ các nhà doanh nghiệp mà cả Nhà nước, các đơn vị không sản xuất kinh doanh, các hiệp hội, tổ chức quần chúng và dân cư phải tiếp cận với thị trường tiền tệ, thị trường vốn. Xuất phát từ chính sách tài chính - tiền tệ, từ cung - cầu về vốn trên thị trường, Nhà nước có thể tham gia trên thị trường tài chính bằng việc phát hành các loại chứng khoán (tín phiếu, trái phiếu) nhằm huy động vốn của tất cả các chủ thể trong xã hội để đáp ứng yêu cầu cân đối vốn của ngân sách Nhà nước hoặc cho các đơn vị kinh tế vay bằng hình thức Nhà nước mua các loại chứng khoán của doanh nghiệp. Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế - chính trị của nhà nước và việc thực hiện các chức năng của nhà nước, được nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhật định; Hoạt động ngân sách nhà nước là hoạt động phân phối lại các nguồn tài chính, nó thể hiện ở hai lĩnh vực thu và chi của nhà nước; Ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước, luôn chứa đựng những lợi ích chung, lợi ích công cộng; Ngân sách nhà nước cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác. Nét khác biệt của ngân sách nhà nước với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của nhà 7 nước, nó được chia thành nhiều quỹ nhỏ có tác dụng riêng, sau đó mới được chi dùng cho mục đích đã định; Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước được thực hiện theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu.
Có nghĩa các hoạt động thu chi NSNN mang tính chất hoàn trả gián tiếp cho cộng đồng như thông qua các hoạt động phúc lợi xã hội, cơ sở hạ tầng, an ninh trật tự… 1.3 Vai trò của NSNN Ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước. Đối với nền kinh tế thị trường, ngân sách nhà nước đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế, xã hội. Ngân sách nhà nước là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội. Theo Nghị định số 60/2003/NĐ – CP ngày 06/6/2003 luật NSNN [10] có những vai trò sau: a.
NSNN có vai trò huy động nguồn tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của nhà nước Huy động nguồn lực tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước là một trong vai trò quan trọng có tính chất truyền thống của ngân sách nhà nước góp phần ổn định thị trường, chống lạm phát và bình ổn giá cả hàng hóa trên thị trường. Vai trò đó bắt nguồn từ nhu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy quản lý Nhà nước. Để tồn tại và phát triển bộ máy Nhà nước, điều hiển nhiên là Nhà nước phải tập trung được một nguồn lực tài chính nhất định. Ngân sách nhà nước chính là một trong những công cụ thực hiện yêu cầu đó.
Tuy nhiên có thể sử dụng mức động viên các nguồn tài chính từ các chủ thể trong nguồn kinh tế nhưng đòi hỏi phải hợp lý. Nếu mức động viên quá cao hoặc quá thấp thì sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế. Vì vậy, cần phải xác định mức huy động vào ngân sách nhà nước một cách phù hợp với khả năng đóng góp tài chính của các chủ thể trong nền kinh tế. NSNN điều tiết và thúc đẩy nền kinh tế phát triển Ngân sách là nguồn lực tài chính để Nhà nước sản xuất và cung ứng hàng hoá, dịch vụ công cho xã hội mà tư nhân không muốn hoặc không có khả năng cung ứng; trong khi đây là hàng hoá, dịch vụ đáp ứng cho nhu cầu cần thiết của xã hội.
Thông qua NSNN, nhà nước định hướng đầu tư, điều chỉnh cơ cấu của nền kinh tế theo định hướng của nhà nước cả về cơ cấu ngành. NSNN là công cụ định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền. Kích thích sự tăng trưởng kinh tế theo sự định hướng phát triển kinh tế xã hội thông qua các công cụ thuế và thuế suất của Nhà nước sẽ góp phần kích thích sản xuất phát triển, thu hút sự đầu tư của các doanh nghiệp. Ngoài ra, Nhà nước còn dùng NSNN đầu tư vào cơ sở hạ tầng tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động.
NSNN được sử dụng trong ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát bằng cách giảm chi NSNN, tăng thuế tiêu dùng, khống chế cầu, giảm thuế đầu tư để khuyến khích đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng cung. Sử dụng các công cụ vay nợ như trái phiếu, tín phiếu kho bạc,… để hút bớt lượng tiền mặt trong lưu thông nhằm giảm sức ép về giá cả và bù đắp thâm hụt ngân sách. Ngoài ra, nhà nước còn sử dụng nguồn lực NSNN tạo lập các quỹ dự trữ về hàng hoá và tài chính nhằm điều hoà cung cầu, bình ổn giá cả. NSNN góp phần giải quyết các vấn đề xã hội Nền kinh tế thị trường có những ưu điểm nhất định, nhưng nó cũng luôn chứa đựng khuyết tật mà không thể tự sửa chữa đặc biệt là về mặt xã hội như: bất bình đẳng về thu nhập, sự chênh lệch về mức sống, tệ nạn xã hội,… Do đó, nhà nước phải khắc phục các khuyết tật này của thị trường, đảm bảo phát triển bền vững.
Nhà nước có thể sử dụng NSNN điều chỉnh thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, giảm bớt những bất hợp lý trong phân phối, đảm bảo công bằng và góp phần giải quyết các vấn đề xã hội. Nhà nước giải quyết các vấn đề xã hội bằng cách sử dụng nguồn lực NSNN đảm bảo cung ứng các dịch vụ, hàng hoá công cộng (giáo dục, y tế, văn hoá,…); tài 9 trợ cho các chương trình (chương trình giải quyết việc làm, chương trình xoá đói giảm nghèo, phòng chống tệ nạn xã hội,…). Vai trò quan trọng nhất của NSNN về mặt xã hội là từ nguồn thu huy động được, NSNN chi đầu tư và phân phối thông qua dự toán chi NSNN cho các ngành và mọi lĩnh vực xã hội, đảm bảo cho nhà nước thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình. NSNN chi phối toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội từ tiêu dùng, thu nhập cho đến các vấn đề kinh tế, xã hội; quan hệ chi tiêu liên quan đến mọi lĩnh vực như chi cho hoạt động của bộ máy nhà nước, an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, chi cho giáo dục, y tế, văn hoá, xoá đói giảm nghèo, hỗ trợ cho các đối tượng chính sách và chi cho nhiệm vụ xã hội khác,… Những khoản chi này của NSNN thường được gom thành hai nhóm: chi thường xuyên để duy trì bộ máy nhà nước và chi phục vụ cho đầu tư phát triển.
Quan hệ chi tiêu NSNN, tỷ lệ tương quan giữa các nhóm, giữa các khoản mục chi tiêu, tốc độ tăng, giảm, chi thứ tự của ưu tiên cấp phát chi… không những chỉ phản ánh vấn đề có quan hệ kinh tế quan trọng mà còn có ý nghĩa giai cấp, dân tộc và các vấn đề chính trị, xã hội.