Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MỐI LIÊN KẾT TRONG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ CHÈ 1. Khái niệm về liên kết kinh tế Khái niệm “liên kết” xuất phát từ tiếng Anh “integration” mà trong hệ thống thuật ngữ kinh tế có nghĩa là sự hợp nhất, sự phối hợp hay sáp nhập của nhiều bộ phận thành một chỉnh thể. Trước đây khái niệm này Được biết đến với tên gọi là nhất thể hoá và gần đây mới gọi là liên kết. [22] Theo từ điển Thuật ngữ kinh tế học của Viện nghiên cứu và phổ biến tri thức bách khoa thì “Liên kết kinh tế là hình thức hợp tác phối hợp hoạt động do các đơn vị kinh tế tự nguyện tiến hành nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển theo hướng có lợi nhất trong khuôn khổ pháp luật của nhà nước.
Mục tiêu của liên kết kinh tế là tạo ra sự ổn định của các hoạt động kinh tế thông qua các quy chế hoạt động để tiến hành phân công sản xuất, khai thác tốt các tiềm năng của các đơn vị tham gia liên kết để tạo ra thị trường tiêu thụ chung, bảo vệ lợi ích cho nhau”. Pearce (1999), “Liên kết kinh tế chỉ các tình huống khi mà các khu vực khác nhau của một nền kinh tế thường là khu vực công nghiệp và nông nghiệp hoạt động phối hợp với nhau một cách có hiệu quả và phụ thuộc lẫn nhau, là một yếu tố của quá trình phát triển. Điều kiện này thường đi kèm với sự tăng trưởng bền vững”.[15] Theo Trần Văn Hiếu (2004), “Liên kết kinh tế là quá trình xâm nhập, phối hợp với nhau trong sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế dưới các hình thức tự nguyên nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh theo hướng có lợi nhất trong khuôn khổ luật pháp, thông qua hợp đồng kinh tế để khai thác tốt các tiềm năng của các chủ thể tham gia liên kết. Liên kết kinh tế có thể tiến hành theo chiều dọc hoặc chiều ngang, trong nội bộ ngành hoặc giữa các ngành, trong một quốc gia hoặc nhiều quốc gia trên phạm vi khu vực và quốc tế.[12] 6 Theo quyết định số 38/1989/QĐ - HĐBT ngày 4 tháng 4 năm 1989 của Hội đồng bộ trưởng về liên kết kinh tế trong sản xuất lưu thông và dịch vụ và các văn bản của nhà nước ta, liên kết kinh tế được hiểu là những hình thức phối hợp hoạt động do các đơn vị kinh tế tiến hành để cùng nhau bàn bạc và đề ra các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc sản xuất kinh doanh của mình nhằm thúc đẩy sản xuất theo hướng có lợi nhất.
Tác giả Vũ Đức Hạnh (2015) cho rằng: “Liên kết kinh tế chính là những phương thức hoạt động của các hình thức hợp tác kinh tế, liên kết kinh tế phát triển ngày càng phong phú, đa dạng theo sự phát triển của hợp tác kinh tế; Tất cả các mối quan hệ kinh tế được hình thành giữa hai hay nhiều đối tác với nhau dựa trên những hợp đồng đã ký kết với những thoả thuận nhất định được gọi là liên kết kinh tế”.[11] Như vậy, nói tóm lại, theo tác giả, từ khái niệm liên kết kinh tế được tiếp cận như trên, thì ““Liên kết kinh tế chính là những phương thức hoạt động của các hình thức hợp tác kinh tế, liên kết kinh tế phát triển ngày càng phong phú, đa dạng theo sự phát triển của hợp tác kinh tế; Tất cả các mối quan hệ kinh tế được hình thành giữa hai hay nhiều đối tác với nhau dựa trên những hợp đồng đã ký kết với những thoả thuận nhất định được gọi là liên kết kinh tế”. Vai trò và đặc điểm của liên kết trong sản xuất và tiêu thụ chè 1. Vai trò Liên kết là một hình thức đem lại lợi ích chắc chắn cho các bên liên quan. Khác với mọi liên kết lỏng lẻo giữa nông dân và các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ sản phẩm, liên kết kinh tế thông qua hợp đồng loại bỏ các tầng lớp mua bán trung gian nên trực tiếp bảo vệ được người sản xuất, nhất là người nghèo khi bán sản phẩm.
Liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp chế biến và hộ nông dân cho phép xoá bỏ độc quyền đối với doanh nghiệp trong việc ép cấp, ép giá khi mua sản phẩm của người nông dân. Mặt khác, thực hiện liên kết thông qua hợp đồng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chế biến 7 có nguồn cung cấp ổn định để phấn đấu giảm giá thành, tăng chất lượng sản phẩm, nâng cao được năng lực cạnh tranh đối với sản phẩm của mình trên thị trường trong nước và quốc tế. Liên kết kinh tế giúp các tác nhân khắc phục những bất lợi về quy mô. Trong hoạt động sản xuất - kinh doanh, mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh (hộ, hợp tác xã, doanh nghiệp) đều thực hiện một chuỗi các hoạt động từ cung cấp, dịch vụ đầu vào và đầu ra; mỗi cung đoạn lại có những đầu vào khác nhau, quy trình công nghệ khác nhau và mang tính đặc thù; hơn nữa để sản xuất một loại sản phẩm đầu ra nào đó lại yêu cầu những chủng loại vật tư, nguyên liệu đầu vào khác nhau mà bản thân đơn vị sản xuất (hộ, hợp tác xã, doanh nghiệp) không tự sản xuất ra tất cả, mà đó là kết quả của quá trình phân công lao động, liên kết hợp tác của hai hay nhiều bên nhằm phát huy lợi thế so sánh, giảm chi phí sản xuất và chủ động, ổn định sản xuất - kinh doanh.
Liên kết kinh tế giúp cho tiêu thụ sản phẩm được nhanh hơn, thể hiện thông qua sự liên kết của hệ thống các nhà thương mại với các nhà sản xuất, thông qua hình thức đại lý bán hàng. Hình thức liên kết này, các cửa hàng kinh doanh sẽ nhận làm đại lý bán buôn hay bán lẻ sản phẩm cho người sản xuất.Và nhờ đó, sản phẩm sẽ được đưa vào thị thường một cách nhanh chóng hơn và kịp thời hơn. Liên kết kinh tế còn giúp cho các chủ thể tiếp cận nhanh chóng với các công nghệ và kỹ thuật mới, nhờ sự phối hợp với các nhà nghiên cứu ở các trường đại học hay cơ sở nghiên cứu trong và ngoài nước. Ngược lại, sự thay đổi của thị trường cũng thúc đẩy liên kết kinh tế.
Trong thực tế, khi những thay đổi của thị trường vượt ra ngoài khả năng đáp ứng của một hộ, một cơ sở hay một doanh nghiệp, thì buộc các hộ phải tìm cách liên kết với các đối tác khác để tìm kiếm sự hỗ trợ về vốn và công nghệ, kể cả việc tiến hành đặt gia công sản xuất ở bên ngoài những phụ kiện phục vụ cho sản phẩm chính của mình. 8 Liên kết kinh tế giúp giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh. Phát triển sản xuất là một quá trình vận động không ngừng, tích tụ tập trung rồi lại chia tách, sáp nhập để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội và phù hợp với khả năng nội tại của doanh nghiệp nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận cao nhất, mà lại giảm thiểu được rủi ro. Quá trình đó diễn ra thực chất là thông qua các hoạt động liên kết kinh tế.
Đứng trước một cơ hội sản xuất lớn, nhiều khi vượt quá khả năng sản xuất của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp bỏ sẽ mất cơ hội làm ăn, những nếu doanh nghiệp đơn độc một mình triển khải thực hiện dự án dẫn đến hiệu quả thấp, thậm chí thua lỗ. để tránh được hiện tượng này, nhiều doanh nghiệp đã biết phân tán rủi ro bằng cách mời gọi các doanh nghiệp khác cùng tham gia thực hiện dự án, mỗi doanh nghiệp đảm nhận một phần công việc, tuỳ theo năng lực của từng doanh nghiệp. Như vậy, mỗi doanh nghiệp tham gia dự án chỉ phải chịu một phần rủi ro nếu có.
Đặc điểm - Liên kết kinh tế đảm bảo làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh. Bởi vì liên kết nhằm khai thác tốt hơn tiềm năng của từng đơn vị nên dù được tiến hành dưới hình thức nào thì những quan hệ liên kết này cũng phải đáp ứng được nhu cầu phát triển của các bên tham gia. - Liên kết phải được hình thành trên tinh thần tự nguyện của các chủ thể. Nó phải xuất phát từ nhu cầu của mỗi tác nhân, chỉ khi đó các chủ thể mới phát huy hết năng lực của mình trong giải quyết khó khăn cũng như tìm kiếm lợi ích thông qua liên kết.
Sự tự nguyện tham gia liên kết cũng góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm cho các tác nhân, hành động cùng vì lợi ích chung và cùng chịu trách nhiệm về những thất bại hay rủi ro trong liên kết. - Liên kết phải đảm bảo công bằng, dân chủ, bình đẳng. Các quyết định của liên kết phải được sự thống nhất đồng ý của các tác nhân, ngoài ra các hoạt động như quản lý, điều hành, giám sát, phân phối lợi ích hay chia sẻ rủi ro trong sản xuất kinh doanh cũng cần thể hiện được sự công bằng và bình 9 đẳng giữa, đó cũng chính là động lực thúc đẩy sự hành động. Trong liên kết kinh tế công bằng không có nghĩa là chia đều mà dựa vào sự đóng góp của mỗi bên mà phân chia quyền lợi cũng như trách nhiệm, từ đó đòi hỏi phải có sự công khai, minh bạch và chặt chẽ trong liên kết.
Phân loại và nguyên tắc liên kết kinh tế 1. Phân loại Tùy theo căn cứ để phân chia có thể có nhiều loại hình liên kết kinh tế khác nhau. Mổi một cách phân chia biểu hiện những thuộc tính khác nhau của liên kết kinh tế giúp cho việc nhận thức và thực hiện có hiệu quả kiên kết kinh tế. - Căn cứ theo quan hệ kinh tế-kỹ thuật, có các loại hình liên kết sau: + Liên kết dọc (Vertical integration): Là liên kết giữa các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất-kinh doanh khác ngành nhưng có mối quan hệ kinh tế-kỹ thuật trong toàn bộ hoặc một phân đoạn của một dây chuyền công nghệ sản xuất-lưu thông từ nguyên liệu ban đầu đến sản phẩm tiêu dùng cuối cùng.
Ví dụ: Quan hệ liên kết giữa nông dân-doanh nghiệp sản xuất bông xơ là một liên kết dọc. + Liên kết ngang (Horizontal integration): Là liên kết giữa các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất-kinh doanh trong cùng một ngành hàng cùng phối hợp hoạt động cho một lợi ích chung hoặc thực hiện chuyên môn hóa trong ngành để góp phần tạo ra cùng một lọai sản phẩm. Ví dụ: Các-ten, xanh-di-ca, hiệp hội ngành hàng là những hình thức liên kết ngang. Gần gũi hơn như hợp tác xã nông nghiệp ở nước ta hiện nay được xây dựng trên cơ sở hộ nông nghiệp tự chủ thực chất là một hình thức liên kết ngang.