phần mở đầu, kết luận, bảng biểu, biểu đồ, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn đƣợc bố cục thành bốn chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về nâng cao hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vƣợng, Chi nhánh Hà Tĩnh. Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vƣợng, Chi nhánh Hà Tĩnh.
3 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong nền kinh tế thị trƣờng, nguồn vốn đóng vai trò rất quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng nhƣ hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại. Chính vì lẽ đó, nâng cao hiệu quả huy động vốn trong các NHTM đƣợc các nhà khoa học, các nhà kinh tế đặc biệt quan tâm. Trong thời gian qua đã có một số đề tài, công trình nghiên cứu về hoạt động huy động vốn của các NHTM, có thể kế đến các công trình nghiên cứu sau đây: - Các công trình nghiên cứu trong nƣớc Tạ Thị Kim Dung (2015), đề tài “Nâng cao hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thƣơng mại – kinh nghiệm quốc tế và liên hệ với Việt Nam”, trong nghiên cứu của này, tác giả đã nghiên cứu hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại, trong đó có hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thƣơng mại.
Tác giả đi sâu vào nghiên cứu kinh nghiệm của một số nƣớc và từ đó liên hệ đến hệ thống ngân hàng tại Việt Nam. Phùng Thị Lan Hƣơng (2015), “Phân tích tài chính với việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại Việt Nam”, nghiên cứu đã cho thấy sự cần thiết phải đánh giá một cách chi tiết hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và huy động vốn nói riêng, để nhận biết, phán đoán, dự báo, đƣa ra quyết định tài chính, quyết định tài trợ và có sự điều chỉnh nhật định nhằm nâng cao hiệu quả trong kinh doanh của ngân hàng. Đƣờng Thị Thanh Hải (2014), đề tài “Ngân hàng thƣơng mại Việt Nam, Nâng cao huy động vốn”, tác giả đã khái quát về ngân hàng thƣơng mại, nêu bốn vai trò quan trọng của hoạt động huy động vốn đối với ngân hàng, đó là: nguồn vốn huy động có ảnh hƣởng trực tiếp đến quy mô hoạt động của hệ thống ngân hàng; nguồn vốn huy động giúp ngân hàng chủ động trong kinh doanh; nguồn vốn huy 4 z động giúp ngân hàng nâng cao vị thế của mình trên thị trƣờng và nguồn vốn huy động quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Qua đó, tác giả nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng thƣơng mại.
Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, tác giả chỉ mới dừng lại ở việc khái quát chung, chƣa đi sâu nghiên cứu đối với một ngân hàng cụ thể nào. Ngô Xuân Hoàng (2011), đề tài “Một số vấn đề về huy động vốn của ngân hàng thƣơng mại ở Việt Nam”, tác giả đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của ngân hàng thƣơng mại đối với nền kinh tế, nêu bật những kết quả đạt đƣợc, những vấn đề cần giải quyết để hoạt động huy động vốn ngày càng đƣợc nâng cao. Tác giả cũng đã nêu ra những con số cụ thể để so sánh lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam với ngân hàng các nƣớc trong khu vực, qua đó cho thấy quy mô của các ngân hàng Việt Nam còn nhỏ, sức cạnh tranh với các ngân hàng nƣớc ngoài tại Việt Nam còn nhiều hạn chế, từ đó tác giả khái quát lên những vấn đề cần giải quyết trong việc phát triển hệ thống ngân hàng thƣơng mại tại Việt Nam. - Công trình nghiên cứu của nƣớc ngoài Alex Ehimare Omankhanlen, Covenant University, Nigeria (2012), với đề tài “The Role of Bank in Capital Formation and Economic Growth: The Case of Nigeria” (Vai trò của Ngân hàng trong việc hình thành nguồn vốn và tăng trƣởng kinh tế: Trƣờng hợp Nigeria), nghiên cứu này đã khảo sát vai trò của các ngân hàng trong việc hình thành vốn và tăng trƣởng kinh tế tại Nigeria giai đoạn từ 1980-2009.
Tác giả khẳng định vai trò quan trọng của ngân hàng trong nền kinh tế, với chức năng trung gian tài chính, hệ thống ngân hàng là động lực tăng trƣởng cho nền kinh tế của bất kì quốc gia nào. Chỉ ra các hoạt động của ngân hàng nhƣ huy động vốn từ tiết kiệm, huy động tiền gửi, tạo ra tín dụng,… Hình thành vốn xuất phát từ tích lũy tiết kiệm, huy động vốn từ nguồn tiền tiết kiệm của dân cƣ sẽ tạo nên sự gia tăng tổng đầu tƣ trong nƣớc, tăng nguồn vốn cho các dự án đầu tƣ. Nghiên cứu đã tập trung vào các nội dung: Phân tích tác động của việc huy động tiền gửi của các ngân hàng đối với sự hình thành vốn và tăng trƣởng kinh tế ở Nigeria; điều tra tác động của các chỉ số hoạt động khác của các ngân hàng nhƣ tín dụng đến tăng trƣởng kinh 5 z tế ở Nigeria; xác định mối liên hệ giữa sự hình thành vốn và tăng trƣởng kinh tế ở Nigeria; đánh giá hoạt động huy động vốn từ tiết kiệm nội địa của ngân hàng ở Nigeria và đƣa ra mục tiêu tăng trƣởng trong những năm tới. Trung tâm giải pháp ngân hàng của Công ty kiểm toán Deloitte (The Deloitte Centre for Banking Solutions) (2009) với bài viết “Improving Efficiency The new high ground for banks” (tạm dịch Nâng cao hiệu quả nhằm nâng cao vị thế cho các ngân hàng).
Bài viết nhấn mạnh nâng cao hiệu quả trong kinh doanh của ngân hàng đã trở thành một sự cần thiết có tính cạnh tranh trong điều kiện thị trƣờng tài chính có nhiều biến động. Qua các đề tài, công trình nghiên cứu nêu trên cho thấy, hoạt động huy động vốn là đề tài rộng đƣợc nhiều nhà khoa học nghiên cứu, tiếp cận ở các khía cạnh khác nhau, tuy nhiên, chƣa có tác giả và công trình nghiên cứu nào đề cập một cách có hệ thống hiệu quả huy động vốn, nhất là với đối tƣợng Ngân hàng thƣơng TMCP Việt Nam Thịnh Vƣợng, Chi nhánh Hà Tĩnh. Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu, giải quyết những vấn đề mà các công trình trƣớc chƣa đề cập hoặc chƣa giải quyết một cách thỏa đáng, nhằm bổ sung đầy đủ cả về lý thuyết và thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả huy động vốn tại VPBank, Chi nhánh Hà Tĩnh trong thời gian tới. Cơ sở lý luận về nâng cao hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng thƣơng mại 1.
Tổng quan về ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về NHTM, để đƣa ra đƣợc một khái niệm chính xác và tổng quát nhất về NHTM, ngƣời ta thƣờng phải dựa vào tính chất và mục đích hoạt động của nó trên thị trƣờng tài chính, và đôi khi còn kết hợp tính chất, mục đích và đối tuợng hoạt động, tùy thuộc vào tập quán pháp luật của từng quốc gia, từng vùng lãnh thổ. Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, luật số 17/2017/QH14 do Quốc hội nƣớc Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kì họp thứ 4, thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2017, định nghĩa: NHTM là một loại hình tổ chức tín dụng đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động 6 z kinh doanh tiền tệ dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng số tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán và các hoạt động khác có liên quan. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại Với trình độ phát triển của khoa học, nhu cầu của xã hội hiện nay, hoạt động của ngân hàng ngày càng phong phú với những nghiệp vụ cơ bản sau đây: - Hoạt động huy động vốn Là hoạt động tạo vốn cho ngân hàng thƣơng mại, đóng vai trò quan trọng ảnh hƣởng tới chất lƣợng hoạt động của ngân hàng.
Hoạt động huy động vốn góp phần mang lại nguồn vốn cho ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác. NHTM huy động vốn dƣới các hình thức sau: Huy động vốn từ các tổ chức kinh tế; huy động vốn từ dân cƣ; huy động vốn từ phát hành các giấy tờ có giá; huy động vốn qua đi vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và các tổ chức nƣớc ngoài; vay vốn ngắn hạn của NHNN; các hình thức huy động vốn khác theo quy định của NHNN. - Hoạt động cấp tín dụng NHTM đƣợc cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân dƣới các hình thức: cho vay, chiết khấu thƣơng phiếu và các giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của NHNN. Cho vay: trong các hoạt động cấp tín dụng, cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Cho vay là nghiệp vụ chính mang lại lợi nhuận chủ yếu, chiếm tới 60-70% đối với các ngân hàng truyền thống, về bản chất ngân hàng thƣơng mại chuyển giao quyền sử dụng một lƣợng vốn nhất định để đổi lấy thu nhập từ lãi. Hoạt động cho vay đƣợc phân chia theo các tiêu chí: nếu theo thời gian, phân loại cho vay thành cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và dài hạn; còn theo mục đích của khoản vay, phân loại thành cho vay bất động sản, cho vay thƣơng mại, cho vay dự án, cho vay cá nhân, cho vay nông nghiệp, cho vay tiêu dùng … Chiết khấu: NHTM đƣợc chiết khấu thƣơng phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết khấu các thƣơng phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng khác. 7 z Bảo lãnh: NHTM đƣợc bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh NH khác. Mức bảo lãnh đối với một khách hàng và tổng mức bảo lãnh của một NHTM không đƣợc vƣợt quá tỷ lệ so với vốn tự có của NH.
Cho thuê tài chính: NHTM đƣợc hoạt động cho thuê tài chính nhƣng phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng.