phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục các từ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương: CHƢƠNG 1: Hoạt động thông tin - thư viện trước yêu cầu của Viện Nghiên cứu Môi trường và Phát triển bền vững CHƢƠNG 2: Thực trạng hoạt động thông tin - thư viện tại Viện Nghiên cứu Môi trường và Phát triển bền vững CHƢƠNG 3: Các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động thông tin - thư viện tại Viện Nghiên cứu Môi trường và Phát triển bền vững 11 z Chƣơng 1 HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN - THƢ VIỆN TRƢỚC YÊU CẦU CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU MÔI TRƢỜNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 1. Cơ sở lý luận về hoạt động thông tin - thƣ viện 1.1 Khái niệm và nội dung của hoạt động thông tin - thư viện 1. Khái niệm Để tìm hiểu khái niệm hoạt động thông tin - thư viện, trước hết ta cần làm rõ các khái niệm: Hoạt động, hoạt động thông tin, hoạt động thư viện, hoạt động thông tin - thư viện Hoạt động: là toàn bộ những việc làm của một tổ chức, cá nhân có liên quan với nhau để đạt được mục đích chung, thường là trong một lĩnh vực xã hội. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, xuất bản năm 2005: “ Hoạt động của con người là một chuỗi các hoạt động tác động vào một đối tượng nhất định nhằm vào mục đích nhất định và có ý nghĩa xã hội” [4, tr.
Như vậy, “Hoạt động là tổng hợp các hành động của con người, tác động vào một đối tượng nhất định, nhằm đạt một mục đích nhất định và có ý nghĩa xã hội nhất định. Hoạt động thông tin: “ Là quá trình sáng tạo, thu thập, xử lý, cải biến, lưu trữ và phổ biến thông tin cho con người”[22, tr.3] Hoạt động thư viện: “Là quá trình thu thập, xử lý, lưu trữ và phổ biến tài liệu cho người đọc”[22, tr.5] Nói cách khác: Hoạt động thư viện là quá trình thu thập, xử lý, lưu trữ và phổ biến tài liệu, phổ biến những thông tin chứa đựng trong tài liệu cho người đọc. Nghĩa là hoạt động thư viện phải đảm bảo hai mặt có mối quan hệ hữu cơ: tàng trữ tài liệu và tạo mọi điều kiện cho người đọc khai thác, sử dụng các thông tin chứa đựng trong tài liệu đó. Hoạt động thông tin - thư viện: Qua nghiên cứu, khảo sát, cho đến nay chưa có tài liệu hoặc tác giả nào đưa ra được một định nghĩa cụ thể, chính xác về khái niệm hoạt động thông tin - thư 12 z viện.
Trong phạm vi của luận văn, hoạt động thông tin - thư viện được hiểu là hoạt động khoa học nhằm thu thập, xử lý, phân tích, tổng hợp, lưu trữ, bảo quản và cung cấp thông tin cho người dùng tin. Tài liệu, thông tin muốn đến được với người đọc thì trước hết phải thông qua hàng loạt các công đoạn từ thu thập, xử lý, bảo quản và cuối cùng là phổ biến, tuyên truyền cho người đọc. Các công đoạn này được xem xét trong mối liên quan mật thiết với nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Các hoạt động của thư viện, trung tâm thông tin - thư viện càng phong phú thì càng thu hút được nhiều người dùng tin đến với thư viện.
Người dùng tin là yếu tố cơ bản của hoạt động TT - TV. Động cơ của hoạt động TT - TV là xuất phát từ nhu cầu sử dụng nguồn tin của người dùng tin. Nhu cầu tin (NCT) là “đòi hỏi khách quan của con người đối với việc tiếp nhận và sử dụng thông tin, nhằm duy trì hoạt động sống của con người” [22, tr. Như vậy, để thực hiện trọn vẹn một nhu cầu cần phải có một quá trình hoặc thông qua hàng loạt yêu cầu, đồng thời có sự điều chỉnh và trao đổi qua lại giữa người dùng tin và cơ quan TT - TV.
Chính vì vậy, có thể nói hoạt động thông tin - thư viện có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, là nhân tố quyết định trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của bất kì thư viện hay trung tâm thông tin - thư viện nào. Nội dung của hoạt động thông tin - thư viện Hoạt động TT - TV trải qua các công đoạn: - Bổ sung vốn tài liệu - Xử lý tài liệu, thông tin - Tổ chức và bảo quản tài liệu, thông tin - Phổ biến tài liệu, thông tin cho người dùng tin 1. Mục đích và vai trò của hoạt động thông tin - thư viện 1. Mục đích của hoạt động thông tin - thư viện Mục đích của hoạt động TT - TV là tạo ra các sản phẩm và dịch vụ thư viện, cung cấp thông tin khoa học kịp thời, chính xác đáp ứng nhu cầu của người dùng tin trong đời sống xã hội.
Đây là mục đích chính và là mục tiêu phát triển của bất kì thư 13 z viện hay cơ quan TT - TV nào. Hoạt động TT - TV tạo ra các sản phẩm thông tin và dịch vụ thông tin có chất lượng cao giúp cho NDT tra tìm được nguồn thông tin khoa học có chọn lọc một cách đầy đủ và chính xác nhất. Vì thế, có thể nói hoạt động thông tin - thư viện là khởi nguồn cho các hoạt động khoa học và dẫn đường cho hoạt động khoa học phát triển. Do đó, hoạt động TT - TV được coi là một bộ phận quan trọng của mỗi tổ chức nghiên cứu khoa học, nó phản ánh khả năng, trình độ của mỗi tổ chức đó trong hoạt động nghiên cứu khoa học.
Vai trò của hoạt động thông tin - thư viện Hoạt động thông tin - thư viện có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển văn hóa của đất nước, tạo điều kiện cho nhân dân trở thành những chủ thể sáng tạo văn hoá, đồng thời tiếp thu ngày càng nhiều các thành quả văn hoá và khai thác sử dụng, bảo tồn có hiệu quả các di sản văn hoá của dân tộc và nhân loại. Vì vậy, hoạt động thông tin - thư viện tại các cơ quan TT - TV Việt Nam đã góp phần đắc lực trong việc xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Hoạt động TT - TV giữ vị trí quan trọng trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực của đất nước. Vì vậy, trong giai đoạn CNH - HĐH, các cơ quan TT - TV từng bước hiện đại hoá cơ sở vật chất, trang thiết bị, tăng cường mọi nguồn lực, tích cực phục vụ cho việc đổi mới toàn bộ nội dung, phương pháp dạy và học ở mọi cấp, bậc học; gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất nhằm đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao cho đất nước.
Hoạt động TT - TV có ý nghĩa quan trọng trong công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, thông tin nhanh chóng và kịp thời các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ mới nhất ở trong và ngoài nước. Ngày nay, thông tin ngày càng bùng nổ đa dạng, đa chiều. Ở đâu có đầy đủ thông tin, ở đó khoa học có cơ hội để sáng tạo, phát triển. Hoạt động khoa học sẽ không phát triển được nếu không có hoạt động thông tin dẫn đường.
Hoạt động TT - TV là một bộ phận quan trọng của mỗi tổ chức nghiên cứu khoa học, nó phản ánh khả năng, trình độ của mỗi tổ chức đó trong hoạt động nghiên cứu khoa học. 14 z Hoạt động TT - TV có vai trò quan trọng trong việc phát triển các lĩnh vực kinh tế, sản xuất … và đảm bảo an ninh Quốc gia trong tình hình mới. Như vậy, hoạt động TT - TV đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, một thành tố thiết yếu trong các cơ quan văn hóa, giáo dục, nghiên cứu khoa học nhất là trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và hội nhập quốc tế hiện nay. Khái quát về Viện Nghiên cứu Môi trƣờng và Phát triển bền vững 1.
Lịch sử hình thành và phát triển của Viện Viện Nghiên cứu Môi trường và Phát triển bền vững tiền thân là Ban địa lý Kinh tế do Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam thành lập năm 1979 trước yêu cầu nhiệm vụ đặt ra đối với xây dựng và phát triển chuyên ngành khoa học địa lý kinh tế trong cơ cấu của Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam. Đến năm 1988, cùng với sự phát triển của chuyên ngành khoa học này, đồng thời xuất phát từ yêu cầu thực tế xây dựng và phát triển kinh tế xã hội của đất nước, ngày 21/3/1988, Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam đã ban hành quyết định số 81/KHXH-QĐ, quyết định đổi tên và chuyển Ban Địa lý Kinh tế thành trung tâm địa lý kinh tế xã hội, với tư cách là một đơn vị khoa học có tư cách pháp nhân trực thuộc Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam. Theo Quyết định trên, nhiệm vụ chính trị của Trung tâm Địa lý kinh tế - xã hội được quy định là “ Nghiên cứu các vấn đề địa lý kinh tế - xã hội của các vùng lãnh thổ trong cả nước nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước, cụ thể là nghiên cứu địa lý kinh tế - chính trị và địa lý dân cư trên phạm vi lãnh thổ trong nước và thế giới; biên soạn các công trình nghiên cứu về địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam bao gồm cả địa lý kinh tế - xã hội của địa phương; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có trình độ sau đại học và trên đại học trong lĩnh vực địa lý kinh tế - xã hội và những công việc khác có liên quan. Đến năm 1994, Trung tâm địa lý kinh tế - xã hội được Chính phủ ra quyết định đổi tên thành trung tâm Địa lý nhân văn, trực thuộc Trung tâm Khoa học xã 15 z hội và Nhân văn quốc gia (theo Quyết định số 330 - TTg ngày 21 tháng 6 năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ).
Việc Chính phủ ra Quyết định thành lập Trung tâm Địa lý nhân văn là sự khẳng định thành tích về mọi mặt của cán bộ, viên chức Trung tâm Địa lý kinh tế - xã hội trong quá trình xây dựng và phát triển, đồng thời gửi gắm niềm tin của Chính phủ, của Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia (nay là Viện KHXHVN) vào sự phấn đấu của Trung tâm Địa lý nhân văn, nhằm phát triển hơn nữa lĩnh vực này, đóng góp lớn hơn cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.