phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có 3 chƣơng. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động thông tin - thƣ viê ̣n ở trƣờng đa ̣i ho ̣c. Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động thông tin - thƣ viê ̣n ở Học viê ̣n Phòng không - Không quân Chƣơng 3: Mô ̣t số biện pháp quản lý hoạt động thông tin - thƣ viện ở Học viện Phòng không - Không quân. 13 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN - THƢ VIỆN TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1.
Tổ ng quan nghiên cứu vấn đề Thƣ viện và vấn đề tổ chức quản lý TT-TV đƣợc các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam thuộc các chuyên ngành nghiên cứu dƣới nhiều góc độ khác nhau. Quá trình phát triển thư viện trên thế giới Thời cổ đại: Những phát hiện khảo cổ học cho biết thƣ viện đã có từ 3.000 năm trƣớc công nguyên ở vùng châu thổ Lƣỡng Hà. Theo các nhà khoa học, khảo cổ học thì những thƣ viện đầu tiên của loài ngƣời gồm hàng nghìn bảng ký hiệu đất sét đã có mặt trong các cung điện của Nippua (thuộc Irắc ngày nay) từ 3.000 năm trƣớc công nguyên. Ở những nơi là phát nguyên của nền văn minh cổ đại nhƣ cổ Ai Cập, cổ Hy Lạp, cổ La Mã, Trung Quốc đều đã có dấu tích của tài liệu thƣ viện.
Thời kỳ này, vật chất làm tài liệu là đất sét, mai rùa, gỗ, tre, Papyrus, da, giấy.Thời kỳ này có các thƣ viện nổi tiếng nhƣ: Thƣ viện của vua Atxuabanipan (Atxiri) thành lập vào thế kỷ VII trƣớc công nguyên với 20.000 cuốn sách bằng đất sét. Thƣ viện Pergam thế kỷ III trƣớc công nguyên đến thế kỷ I có 200.000 sách chép tay. Thƣ viện Ai Cập đƣợc thành lập vào thế kỷ III trƣớc công nguyên. Có ngƣời gọi đó là thƣ viện công cộng đầu tiên trong lịch sử loài ngƣời.
Vốn tài liệu là khoảng 700.000 bản sách Papyrus gồm nhiều loại khoa học khác nhau. [34;12] Thời kỳ phong kiến: Thƣ viện vẫn tiếp tục phát triển, đặc biệt trong các nhà thờ, chùa chiền, trƣờng học. Thời kỳ Trung cổ, các thƣ viện Châu Âu do các thế lực tôn giáo chi phối, kiểm soát vốn tài liệu nên phát triển hết sức chậm chạp… Mãi đến khi xuất hiện các trƣờng đại học đầu tiên ở Châu Âu (Thƣ viện trƣờng đại học tổng hợp Pari, năm 1150. Thƣ viện Trƣờng đại học tổng hợp Xoocbon, năm 1253)… thì sự nghiệp thƣ viện phát triển rất mạnh.
Thƣ viện dần thoát khỏi ảnh hƣởng nhà thờ và phát triển, có những đóng góp tích cực và hữu ích cho xã hội. [34;12] 14 z Thời kỳ cận đại: Giai cấp tƣ sản xuất hiện. Nền sản xuất máy móc ra đời. Yêu cầu đối với ngƣời sản xuất tăng lên: họ phải đƣợc đào tạo và nâng cao tay nghề thƣờng xuyên để theo kịp sự đổi mới ngày càng nhanh của máy móc, công nghệ.
Điều đó cũng tạo nên sự phát triển của giáo dục. Thƣ viện thực hiện tốt vai trò giáo dục ngoài nhà trƣờng. [34;12] Thời kỳ hiện đại: Các nƣớc độc lập xuất hiện ngày càng nhiều, thế giới chia làm 2 phe đối địch nhau, ganh đấu nhau đồng thời cũng kìm hãm nhau phát triển. [34;13] Các thƣ viện với đủ lại hình khác nhau phát triển rầm rộ.000 thƣ viện thuộc các loại hình khác nhau.
Thực chất các thƣ viện đã phát triển đến mọi làng xã. Các thƣ viện này lôi cuốn hầu nhƣ toàn dân Liên Xô đọc sách (nhân dân Liên Xô đƣợc coi là dân tộc đọc).000 thƣ viê ̣n công c ộng phục vụ cho khoảng 80% ngƣời dân. [34;13] Nhiều vật mang tin mới, đặc biệt các vật mang tin điện tử. Quá trình phát triển thư viện ở Việt Nam Ở Việt Nam, theo sƣ̉ sách thƣ viện đầu tiên xuất hiện vào năm 1011 khi một số sứ thần của nƣớc ta sang Trung Quốc (từ năm 1007) và mang các sách kinh phật về (1009).
Thời kỳ phong kiến nƣớc ta cũng có một số thƣ viện công (của nhà nƣớc), nhà nƣớc cũng có sắc phong một số quan chức thƣ viện nhƣng chủ yếu là các thƣ viện trong nhà chùa, trong các nhà nho. Không có một số liệu nào nói về sự phát triển của Thƣ viện Việt Nam thời phong kiến. Qua một số tác phẩm của Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú ta biết rằng các thƣ tịch nƣớc ta bị mất rất nhiều trong các cuộc xâm lƣợc của phong kiến phƣơng Bắc cũng nhƣ các cuộc chiến tranh giành quyền lực của các tập đoàn quyền lực nƣớc nhà. Tuy nhiên, có thể đƣa ra một kết luận là các thƣ viện nƣớc ta thời kỳ phong kiến có số lƣợng chƣa nhiều, vốn sách ít ỏi và chịu ảnh hƣởng của kỹ thuật thƣ viện Trung Quốc.
[34;16] Trong quá trình đô hộ Việt Nam, thực dân pháp cũng đã xây dựng ở nƣớc ta một số thƣ viện mà đáng chú ý nhất là Thƣ viện công cộng trung ƣơng Đông Dƣơng (thành lập 1917) mà sau này đƣợc đổi tên là Thƣ viện Quốc gia Việt Nam. Thời kỳ Pháp thuộc, số lƣợng thƣ viện công cộng ở nƣớc ta cũng rất ít (tất cả chỉ có 2-3 thƣ 15 z viện lớn). Tuy nhiên các thƣ viện trong các trƣờng học cả phổ thông và đại học, các công sở khá phát triển. [34;17] Nhƣng chỉ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 và đặc biệt là từ tháng 10 năm 1954 các thƣ viện ở nƣớc ta mới bắt đầu phát triển mạnh và dần tạo nên một mạng lƣới thƣ viện khá rộng trên toàn quốc và tƣơng đối hoàn chỉnh.
Vài nét về Thư viện đại học Việt Nam Trong hệ thống thƣ viện miền Bắc, thƣ viện đại học và cao đẳng xuất hiện khá sớm. Từ năm 1902, khi thành lập trƣờng Cao đẳng Đông Dƣơng, ngƣời Pháp đã thành lập 7 trƣờng cao đẳng thuộc đại học này, và kèm theo nó cũng là 7 thƣ viện trực thuộc các trƣờng. Sau khi tiếp quản thủ đô năm 1954, Nhà nƣớc ta đã mở thêm một số trƣờng nhƣ trƣờng Kinh tế kế hoạch, Đại học Tổng hợp, Đại học Bách khoa, Đại học Sƣ phạm Hà Nội. Thƣ viện của các trƣờng này đã đƣợc bổ sung thêm các giáo trình, bài giảng của các giáo sƣ ngƣời Việt Nam nhƣ Phạm Ngọc Thạch, Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng.Thƣ viện các trƣờng Đại học Tổng hợp, Đại học Sƣ phạm, Đại học Bách khoa đƣợc nhận một số sách vở từ Viê ̣n Viễn đông Bác cổ.
Ngoài ra một số giáo trình, các tài liệu tham khảo do các giáo sƣ soạn luôn luôn đƣợc bổ sung cho thƣ viện. Do đó, kho sách của các trƣờng đã lên đến hàng chục vạn bản. Để tăng nguồn lực thông tin, tháng 5 năm 1986, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã ra quyết định thành lập liên hiệp thƣ viện các trƣờng đại học khu vực phía Bắc và liên hiệp thƣ viện các trƣờng đại học khu vực phía Nam. Trong quyết định này, Bộ đã nêu rõ mục tiêu: “Liên hiệp thƣ viện nhằm cải tiến, phối hợp các hoạt động thƣ viện, phát huy tốt hơn tiềm năng và hiệu quả sử dụng các thƣ viện”.
So với trƣớc đây, chƣa bao giờ thƣ viện đại học Việt Nam có đƣợc bƣớc phát triển lớn nhƣ hiện nay. Tuy nhiên nếu so với các nƣớc trên thế giới và trong khu vực, thì chúng ta vẫn b ị lạc hậu rất nhiều. Trong khoảng 5 năm trở lại đây, một số thƣ viện đại học đƣợc nâng cấp nhờ nguồn kinh phí nhà nƣớc, nhờ vốn vay Ngân hàng thế giới và nhờ tài trợ của nƣớc ngoài nhƣ: Thƣ viện Đa ̣i ho ̣c Đà N ẵng, Đa ̣i học Bách khoa , Trung tâm học liệu Thái Nguyên… những thƣ viện này đã bắt đầu tổ chức và hoạt động theo mô hình của những thƣ viện hiện đại. Tuy nhiên, sự đổi mới đó vẫn chƣa đủ, nguồn tài nguyên thông tin trong các thƣ viện này vẫn chƣa 16 z đƣợc cải thiện đáng kể.
Có thể khái quát những ha ̣n chế thƣ ờng gặp trong các thƣ viện đại học nƣớc ta là; - Về bộ máy tổ chức: Có tới gần 25% trƣờng đại học thƣ viện chƣa phải là đầu mối trực thuộc ban giám đốc, mà thuộc các phòng chức năng nhƣ: đào tạo, quản lý khoa học. Còn ở các trƣờng cao đẳng con số này lên tới gần 70%. - Cơ sở vật chất chƣa đáp ƣ́ng ; phòng, kho chật hẹp và thô sơ , vẫn còn nhiều thƣ viện đại học sử dụng trụ sở , trang thiết bị lạc hậu. Chƣa có tính chuyên nghiê ̣p , ứng dụng CNTT vào công tác TT -TV, mạng nội bộ , mạng internet đối với một số thƣ viện còn chƣa có.
- Một số khá lớn cán bộ thƣ viện chƣa đƣợc đào tạo chuyên môn , một số đã đƣợc đào tạo vẫn thiếu tính chuyên nghiệp , nhất là trong việc cung cấ p thông tin và tƣ vấn ngƣời đọc. - Dịch vụ trong thƣ viện còn đơn điệu, hình thức phục vụ chủ yếu là cho mƣợn đọc tài liệu. Các dịch vụ có khuynh hƣớng “đóng” hơn là “mở”, các dịch vụ mang tính định hƣớng cá nhân hầu nhƣ chƣa đƣợc chú ý. Tóm lại: Hệ thống các thƣ viện đại học Việt Nam xét về tất cả các phƣơng diện còn lạc hậu so với các hệ thống thƣ viện đại học ở các nƣớc trong khu vực và trên thế giới một khoảng cách khá xa.
Điều đó làm cho nhiệm vụ phát triển và hoàn thiện hệ thống thƣ viện Việt Nam cần rất nhiều tâm sức, tiền của và những nỗ lực lớn không chỉ của cán bộ thƣ viện mà còn của toàn bộ ngành giáo dục nói chung. Quan điểm của V. Lênin về thư viện Lênin đánh giá cao vai trò của thƣ viện về mặt văn hoá, thƣ viện có một ý nghĩa quan trọng hàng đầu và là cơ quan văn hoá giáo dục phổ cập nhất trong nƣớc, chỉ kém trƣờng học. [34;17] Lênin cho rằng mức độ phát triển sự nghiệp thƣ viện là biểu hiện của trình độ văn hoá một dân tộc, một quốc gia.
[34;17] Lênin luôn coi tri thức là một sức mạnh khổng lồ. Và để tiếp thu đƣợc các tri thức của loài ngƣời thì Lênin cho rằng sách và thƣ viện là một trong những phƣơng tiện tốt nhất. Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về công tác thư viện Ngay sau khi thành lập, Đảng ta rất quan tâm đến công tác sách báo, coi đó là công cụ quan trọng để giáo dục cách mạng cho ngƣời dân.