Chương 1 Tổng quan về đề tài nghiên cứu 4 Chương 2 Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3 Phương pháp nghiên cứu Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5 Kết luận và một số hàm ý quản trị 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm và vai trò động lực làm việc của người lao động 2.1 Khái niệm về động lực làm việc Trong bất kỳ một tổ chức xã hội, chính trị hay kinh tế nào, người lãnh đạo luôn mong muốn các cá nhân trong tập thể đó có thái độ làm việc tích cực, hăng say, cống hiến sức lực tối đa để đem đến hiệu quả công việc tốt nhất cho tổ chức đó. Tuy nhiên, trên thực tế, có những cá nhân lại thể hiện những khía cạnh ngược lại như thờ ơ, thiếu trách nhiệm, uể oải và chán chường với công việc, không có tính năng động và ý chí phấn đấu, đem lại hiệu quả năng suất làm việc kém. Sự khác nhau đó xuất phát từ động lực lao động của mỗi cá nhân trong tổ chức. Vậy, động lực lao động là gì? Tùy theo cách nhìn nhận và nghiên cứu mà có rất nhiều khái niệm khác nhau về động lực lao động.
Theo một vài định nghĩa, “Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức”. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về động lực, nhưng về cơ bản, động lực là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu của bản thân nói riêng và tổ chức nói chung. Đó là những yếu tố tạo ra lý do hành động cho con người và thúc đấy con người hành động một cách tích cực, có năng suất, chất lượng, hiệu quả để họ có thể thích nghi và sáng tạo cao nhất trong khả năng còn tiềm ẩn của họ. Điều này có nghĩa là động lực sẽ thôi thúc một người có những hành động để đạt được mục tiêu đề ra.
Nói vậy không có nghĩa là tạo động lực sẽ đều đem đến hiệu quả vì quá trình thực hiện còn bị các yếu tố khác chi phối như năng lực, phương tiện tiến hành và các nguồn lực hỗ trợ khác. Nếu các yếu tố trên không bị trở ngại, người lao động được tạo động lực sẽ mang đến kết quả công việc tốt hơn và hiệu suất cao hơn bình thường. 6 Như vậy, nhìn chung, động lực lao động chính là những yếu tố kích thích con người cố gắng, nỗ lực làm việc mang lại kết quả tốt, đạt năng suất, chất lượng, và có hiệu quả cao khi thực hiện các mục tiêu của cá nhân và của tổ chức. Có định nghĩa rằng “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực làm việc”.
Cụ thể hơn, “Tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách hành xử của tổ chức, nhà quản lý để tạo ra sự khát khao, tự nguyện của người lao động buộc họ phải nỗ lực, cố gắng phấn đấu nhằm đạt được các mục tiêu mà tổ chức đề ra. Các biện pháp được đặt ra có thể là các đòn bẩy kích thích về tài chính, phi tài chính, cách hành xử của tổ chức được thể hiện ở điểm tổ chức đó đối xử lại với người lao động như thế nào”. Tạo động lực lao động là việc vận dụng các chính sách, biện pháp, cách thức quản lí tác động tới người lao động, tác động tới môi trường làm việc và các mối quan hệ xung quanh nhằm làm cho người lao động hài lòng hơn với công việc, từ đó có động lực để làm việc. Tạo động lực làm việc cho người lao động sẽ khiến cho người lao động dồn hết khả năng của mình vào việc xây dựng và phát triển doanh nghiệp.2 Vai trò của động lực làm việc Theo các khái niệm đã trình bày ở trên, động lực lao động trong tổ chức/doanh nghiệp là các yếu tố thúc đẩy người lao động hoàn thành nhiệm vụ và đạt được mục tiêu do tổ chức/doanh nghiệp đề ra.
Động lực lao động được cho là nguồn gốc ảnh hưởng đến việc tăng giảm năng suất lao động của cá nhân người lao động cũng như hiệu quả sản xuất của tổ chức. Khi có động lực thôi thúc, nhân viên có thể phát huy được khả năng của mình đúng cách, thậm chí khám phá được tiềm năng của họ để từ đó họ làm việc hăng say hơn, nhiệt tình hơn, và hiệu quả hơn. 7 Trong công tác sản xuất và các hoạt động kinh doanh, để đạt hiệu quả sản xuất cao cũng như năng suất lao động cao, bất kỳ tổ chức/doanh nghiệp nào cũng cần phải có nguồn nhân lực mạnh và dồi dào. Bên cạnh vấn đề về trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp ra, vấn đề động lực làm việc là một trong những yếu tố quyết định đến năng suất và hiệu quả làm việc của người lao động.
Để tạo cho nhân viên vui vẻ, tích cực và có tính sáng tạo cao trong công việc, các tổ chức cần phải có biện pháp tạo động lực phù hợp và hiệu quả. Do đó, việc thực hiện tốt công tác tạo động lực sẽ làm dịu đi những căng thẳng không cần thiết liên quan đến công việc chuyên môn, tăng cường sự hấp dẫn của tiền lương, tiền thưởng, tạo môi trường hấp dẫn cho người lao động có thể hăng hái làm việc, thêm gắn bó với doanh nghiệp, thậm chí sẵn sàng cống hiến hết mình vì sự thành công và phát triển của doanh nghiệp. Tại sao các tổ chức/doanh nghiệp cần người lao động có động lực? Câu trả lời là vì sự sống còn trong thời đại hiện nay để có thể nhanh chóng đuổi kịp tốc độ phát triển toàn cầu cũng như có những thay đổi, cải tiến nhanh chóng để vươn lên dẫn trước của doanh nghiệp. Khi cả thế giới đang liên tục phát triển và bạn đứng yên, điều đó đồng nghĩa với việc bạn đang bị thụt lùi.
Do đó, người lao động được tạo động lực là nhân tố giúp tổ chức/doanh nghiệp tồn tại vì nhìn chung họ sẽ làm việc hiệu quả hơn. Trong tổ chức/doanh nghiệp việc tạo động lực tạo động lực ngoài mục đích để người lao động làm việc hiệu quả và chăm chỉ hơn, nó còn nhằm vào việc để họ có thể cống hiến hết mình vì tổ chức/doanh nghiệp và gắn bó lâu dài với nó. Sự nỗ lực làm việc và tận tâm, hết lòng vì công ty của từng nhân viên, sự cống hiến, đóng góp công sức, trí tuệ của các cá nhân và tập thể trong đơn vị, có ý nghĩa và ảnh hướng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của tổ chức doanh nghiệp. Đó là lý do bất kỳ tổ chức/doanh nghiệp nào cũng cần phải quan tâm đến vấn đề tạo động lực lao động cho người lao động.
Tạo động lực lao động cho người lao động không những kích thích tâm lý làm việc cho người lao động mà nó còn tăng hiệu quả lao động, hiệu 8 quả sản xuất kinh doanh của công ty, xây dựng đội ngũ nhân viên có năng lực, chuyên nghiệp và trung thành, đồng thời làm tăng uy tín và khả năng cạnh tranh trên thị trường. Để có tạo động lực có hiệu quả, các nhà quản lý cần hiểu những gì có thể thúc đẩy người lao động của mình với các nhiệm vụ và vai trò họ đang thực hiện. Trong tất cả các nhiệm vụ mà người quản lý thực hiện, việc thúc đẩy nhân viên được cho là phức tạp nhất một phần là vì. những yếu tố tạo động lực cho người lao động đa dạng, mỗi cá nhân mỗi khác và thay đổi liên tục.
Ví dụ, khi thu nhập của nhân viên tăng lên, tiền sẽ trở thành động lực ít hơn và công việc thú vị trở nên có động lực hơn. Theo đó, động lực lao động không mang đặc tính cá nhân mà xuất hiện trong quá trình lao động và do các tác nhân bên ngoài ảnh hưởng, kích thích các nhân tố bên trong tạo động lực cho người lao động. Chính vì vậy, để tạo được động lực lao động, các nhà quản lý của tổ chức phải tìm hiểu, nghiên cứu về đặc tính công việc, môi trường làm việc và các mối quan hệ của người lao động có liên quan đến tổ chức để tìm ra phương pháp tạo động lực hiệu quả nhất.3 Các yếu tố chung ảnh hưởng đến động lực làm việc của người lao động Bên cạnh việc tăng cường động lực cho người lao động, các tổ chức/doanh nghiệp cũng cần quan tâm, lưu ý đến các yếu tố xung quanh có khả năng tác động đến động lực lao động của nhân viên, đặc biệt khi nó có thể gây ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả công tác và năng suất làm việc của người lao động. Các yếu tổ này nhìn chung có thể phân theo hướng nhìn của người lao động thành 3 phần bao gồm bên ngoài tổ chức, bên trong tổ chức, và bản thân người lao động.1 Các yếu tố bên ngoài tổ chức - Các chính sách, luận pháp theo quy định của nhà nước Bất kỳ tổ chức/doanh nghiệp nào đang hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam đều cần tuân theo mọi chính sách của Chính phủ, pháp luật của Việt Nam và địa phương đó, đặc biệt là các chính sách và pháp luật có liên quan đến vấn đề lao động của tổ 9 chức/doanh nghiệp, đều có sự tác động đến động lực lao động của người lao động ví dụ như các chính sách về mức lương tối thiểu, ngày nghỉ Lễ Tết theo quy định, các quy định về Luật Lao động, v.v… Nếu tổ chức/doanh nghiệp càng quan tâm và tuân theo đến các quy định, chính sách này, quyền lợi của người lao động được đảm bảo và động lực lao động sẽ càng tăng lên bởi sự ràng buộc về trách nhiệm mang tính pháp lý của quốc gia và địa phương.
- Điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội Mỗi quốc gia, địa phương đều có những đặc thù về kinh tế - chính trị - xã hội khác nhau. Các yếu tố về kinh tế như tỷ lệ đầu tư trong ngoài ngành, mức sống, lạm phát, thất nghiệp, thuế suất. hay các yếu tố về tình hình chính trị - xã hội để có sức ảnh hưởng rất lớn đến tổ chức/doanh nghiệp.