phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được kết cấu theo ba phần như sau: Phần 1: Cơ sở lý luận về cho vay giải quyết việc làm tại Ngân hàng Chính sách xã hội. Phần 2: Thực trạngvà giải pháp tăng cường cho vay giải quyết việc làm tại Ngân hàng Chính sách xã hội - Chi nhánh thành phố Hà Nội. Phần 3: Một số đề xuất, kiến nghịnhằm tăng cường cho vay giải quyết việc làm tại Ngân hàng Chính sách xã hội - Chi nhánh thành phố Hà Nội. 5 Phần 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VÀ CHO VAY GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM 1.
Khái niệm, đặc điểm, vai trò của giải quyết việc làm - Khái niệm về việc làm và giải quyết việc làm Theo quan điểm của tổ chức lao động quốc tế, người có việc làm là người làm việc trong các lĩnh vực, các ngành nghề không bị pháp luật ngăn cấm đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thời đóng góp một phần cho xã hội. Tại điều 9, Chương II Bộ luật lao động số 45/2019/QH14 ban hành ngày 20/11/2019 quy định: “Việc làm là hoạt động tạo ra thu nhập mà pháp luật không cấm”. Như vậy theo quan điểm của nước ta cũng như trên thế giới, việc làm là tất cả những hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập mà pháp luật không cấm. Việc làm có thể tồn tại ở tất cả các thành phần kinh tế, cả gia đình và ngoài xã hội, cả trong và ngoài nước.
Từ quan niệm đó, chúng ta có thể hiểu việc làm theo cả hai nghĩa rộng và hẹp như sau: + Theo nghĩa rộng: Tạo việc làm bao gồm những vấn đề liên quan đến việc phát triển và sử dụng có hiệu quả các nguồn nhân lực. Quá trình đó diễn ra từ việc tạo cơ sở về mặt trí tuệ, tinh thần sức khỏe để chuẩn bị nhân lực có tri thức, có kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, có sức khỏe dồi dào, có tác phong làm việc tốt tạo điều kiện cho người lao động có thể tự do sáng tạo, hưởng thành quả lao động do chính mình tạo ra. Theo nghĩa này, chính sách tạo việc làm cho người lao động phải gắn liền với chính sách giáo dục đào tạo, chính sách văn hóa, y tế…. + Theo nghĩa hẹp: Tạo việc làm là tạo ra nhiều chỗ làm việc.
Theo nghĩa này chính sách tạo việc làm chủ yếu hướng vào đối tượng thất nghiệp chưa có hoặc thiếu việc làm, ổn định làm việc và tạo thêm chỗ làm việc mới. “Giải quyết việc làm là tổng thể những biện pháp, chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước, cộng đồng và bản thân người lao động tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội tạo điều kiện thuận lợi để đảm bảo cho mọi người có khả năng lao độngđều có việc làm”.GQVL không chỉ nhằm tạo thêm việc làm mà còn phải nâng cao chất lượng việc làm. Tạo việc làm là hoạt động kiến thiết cho người lao động có được một công việc cụ thể mang lại thu nhập cho họ và không bị pháp luật ngăn cấm. Người tạo ra công việc cho người lao động có thể là Chính phủ thông qua các chính sách, có thể là một tổ chức hoạt động kinh tế (các công ty, doanh nghiệp, các 6 cơ sở hoạt động sản xuất kinh doanh…) và các cá nhân, thông qua các hoạt động thuê muớn nhân công.
-Vai trò của giải quyết việc làm Việc làm luôn là vấn đề bức xúc có tính thời sự không chỉ đối với nước ta mà còn đối với tất cả các nước trên thế giới, hiện nay sức ép về việc làm đang ngày càng gia tăng. Vì vậy GQVL là một trong những mục tiêu quan trọng bất kỳ quốc gia nào.Việc làm có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, nó không thể thiếu đối với từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt lõi và xuyên suốt trong các hoạt động kinh tế, có mối quan hệ mật thiết với kinh tế và xã hội, nó chi phối toàn bộ mọi hoạt động của cá nhân và xã hội. Đối với từng cá nhân thì có việc làm đi đôi với có thu nhập để nuôi sống bản thân mình, vì vậy nó ảnh hưởng trực tiếp và chi phối toàn bộ đời sống của cá nhân. Việc làm ngày nay gắn chặt với trình độ học vấn, trình độ tay nghề của từng cá nhân, thực tế cho thấy những người không có việc làm thường tập trung vào những vùng nhất định (vùng đông dân cư khó khăn về điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng,.), vào những nhóm người nhất định (lao động không có trình độ tay nghề, trình độ văn hoá thấp,.
Việc không có việc làm trong dài hạn còn dẫn tới mất cơ hội trau dồi, nắm bắt và nâng cao trình độ kĩ năng nghề nghiệp, làm hao mòn và mất đi kiến thức, trình độ vốn có. Đối với nền kinh tế thì lao động là một trong những nguồn lực quan trọng, là đầu vào không thể thay thế đối với một số ngành, vì vậy nó là nhân tố tạo nên tăng trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân. Nền kinh tế luôn phải đảm bảo tạo cầu và việc làm cho từng cá nhân sẽ giúp cho việc duy trì mối quan hệ hài hoà giữa việc làm và kinh tế, tức là luôn bảo đảm cho nền kinh tế có xu hướng phát triển bền vững, ngược lại nó cũng duy trì lợi ích và phát huy tiềm năng của người lao động. Đối với xã hội thì mỗi một cá nhân, gia đình là một yếu tố cấu thành nên xã hội, vì vậy việc làm cũng tác động trực tiếp đến xã hội, một mặt nó tác động tích cực, mặt khác nó tác động tiêu cực.
Khi mọi cá nhân trong xã hội có việc làm thì xã hội đó được duy trì và phát triển do không có mâu thuẫn nội sinh trong xã hội, không tạo ra các tiêu cực, tệ nạn trong xã hội, con người được dần hoàn thiện về nhân cách và trí tuệ…Ngược lại khi nền kinh tế không đảm bảo đáp ứng về việc làm cho người lao động có thể dẫn đến nhiều tiêu cực trong đời sống xã hội và ảnh hưởng xấu đến sự phát triển nhân cách con người. Con người có nhu cầu lao động ngoài việc đảm bảo nhu cầu đời sống còn đảm bảo các nhu cầu về phát triển và tự 7 hoàn thiện bản thân. Vì vậy trong nhiều trường hợp khi không có việc làm sẽ ảnh hưởng đến lòng tự tin của con người, sự xa lánh cộng đồng và là nguyên nhân của các tệ nạn xã hội. Ngoài ra khi không có vệc làm trong xã hội sẽ tạo ra các hố ngăn cách giàu nghèo, đây là nguyên nhân nảy sinh ra các mâu thuẫn và nó ảnh hưởng đến tình hình chính trị.
Do vậy, vai trò của GQVL đối với từng cá nhân, kinh tế, xã hội là rất quan trọng.GQVL cho người lao động là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá về vị thế kinh tế xã hội của một quốc gia, nó có mối quan hệ mật thiết và ảnh hưởng qua lại đối với tình hình kinh tế xã hội của đất nước. GQVL để phát triển kinh tế, giảm nạn thất nghiệp và ngược lại giảm tỷ lệ thất nghiệp để tăng trưởng kinh tế bền vững. Vấn đề tạo việc làm cho người lao động luôn luôn là vấn đề cấp thiết đối với mọi quốc gia trên thế giới.2 Phương thức cho vay giải quyết việc làm tại Ngân hàng Chính sách xã hội Cho vay tại NHCSXH là hình thức cấp tín dụng, theo đó NHCSXH giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. NHCSXH thực hiện cho vay GQVL đối với 02 đối tượng là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh (gọi chung là cơ sở sản xuất, kinh doanh) và người lao động.
Theo đó, phương thức cho vay đối với 02 đối tượng này được quy định như sau: a) Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh NHCSXH thực hiện cho vay trực tiếp tại trụ sởChi nhánh NHCSXH cấp tỉnhhoặc trụ sở Phòng giao dịchNHCSXH cấp huyện. b) Đối với người lao động NHCSXH thực hiện cho vay trực tiếp cho người lao động có ủy thác một số nội dung công việc trong quy trình cho vay cho các tổ chức chính trị - xã hội và thông qua Tổ tiết kiệm và vay vốn theo quy định hiện hành của NHCSXH.3 Quy trình, nguyên tắc cho vay giải quyết việc làm tại Ngân hàng Chính sách xã hội 1. Về điều kiện vay vốn - Đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh: Được thành lập và hoạt động hợp pháp; có dự án vay vốn khả thi tại địa phương, phù hợp với ngành, nghề sản xuất kinh doanh, duy trì hoặc thu hút thêm lao động vào việc làm ổn định; dự án vay vốn có xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nơi thực hiện dự án; có đảm bảo 8 tiền vay theo quy định của pháp luật (nếu có). - Đối với người lao động: Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; có nhu cầu vay vốn để tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm, có xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nơi thực hiện dự án; cư trú hợp pháp tại địa phương nơi thực hiện dự án.
Về mức cho vay Căn cứ vào nguồn vốn, chu kỳ sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ của đối tượng vay vốn, cụ thể: - Đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh mức cho vay tối đa là: 2 tỷ đồng/dự án và không quá 100 triệu đồng cho 01 người lao động được tạo việc làm duy trì và mở rộng việc làm; - Đối với người lao động, mức vay tối đa là 100 triệu đồng. Về thời hạn cho vay Thời hạn cho vay tối đa 120 tháng. Thời gian cho vay cụ thể do NHCSXH xem xét căn cứ vào nguồn vốn, chu kỳ sản xuất, kinh doanh, khả năng trả nợ của đối tượng vay vốn để thoả thuận với đối tượng vay vốn. Về lãi suất cho vay - Lãi suất cho vay đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh, người lao động bằng lãi suất cho vay đối với hộ cận nghèo theo quy định pháp luật về tín dụng đối với hộ cận nghèo(hiện nay là 7,92%/năm).