Chương 1 là một mô hình chuẩn tắc và mang tính tiên để, mô hình này mô tả cách thức con người nên hành động khi đối mặt với những quyết định có liên quan đến rủi ro. Khi so sánh các triển vọng, đơn giản đó là các phân phối xác suất của các kết quả cuối cùng, tiến trình cơ bản là ấn định mức hữu dụng cho mỗi kết quả có thể có, và một tỷ trọng tương ứng với xác suất của kết quả này, và lựa chọn triển vọng nào có độ hữu dụng cao nhất. Mặc dù lý thuyết hữu dụng kỳ vọng rất hữu ích trong việc xây dựng mô hình về việc ra quyết định của các cá nhân, song các học giả tài chính đòi hỏi phải có một mô hình mô tả cách thức các nhà đầu tư ước lượng rủi ro và xác định mức giá trên thị trường. Phân tích giá trị trung bình-phương GIỚI THIỆU: xxÍ sai và mô hình CAPM, được trình bày trong Chương 2, là những bước tiến trọng tâm, lần đầu tiên đưa ra chỉ dẫn về cách thức đo lường rủi ro và định giá tài sản rủi ro.
Cùng lúc đó, ý tưởng về thị trường hiệu quả cũng xuất hiện. Đây là quan điểm cho rằng do các thị trường cạnh tranh luôn phản ánh tất cả các thông tin có liên quan nên giá của một tài sản hầu như bằng với giá trị nội tại. Tuy nhiên, việc phải tốn chi phí mới có được thông tin, cùng với định lý về tính bất khả thi của thị trường hiệu quả của Grossman và Stiglitz, ý tưởng về thị trường hiệu quả chuyển thành không ai có thể liên tục kiếm được tỷ suất sinh lợi vượt trội (sau khi đã điểu chỉnh rủi ro).' Quan trọng là, thị trường hiệu quả liên hệ chặt chế với các mô hình định giá tài sản do vấn để giả thuyết không thể kiểm chứng, thực tế là các kiểm định về tính hiệu quả của thị trường đòi hỏi phải sử dụng một cơ chế điều chỉnh rủi ro nào đó. Bất chấp sự chặt chế của những lý thuyết nền tảng này, không lâu sau đó người ta vẫn phát hiện ra các kẽ hở.
Việc phân tích chỉ tiết về lựa chọn thực sự của con người đã tiết lộ ra một vài vi phạm đối với lý thuyết hữu dụng kỳ vọng. Ví dụ, mặc dù thông thường con người sẽ e ngại rủi ro, _ nhưng đôi khi rõ ràng họ lại có hành vi tìm kiếm rủi ro, việc con người ' sẵn lòng mua vé số là một ví dụ điển hình. Rõ ràng là chúng ta cần thêm lý thuyết mới về lựa chọn của các cá nhân, và lý thuyết này phải dựa trên những hành vi và nghiên cứu thực sự trong tâm lý học. Trong số các mô hình khác nhau được để xuất, lý thuyết triển vọng của Kahneman và Tversky đã thu hút được nhiều sự chú ý nhất.
Lý thuyết triển vọng bản chất là lý thuyết thực chất chứ không phải là lý thuyết chuẩn tắc, và sẽ - được nghiên cứu trong Chương 3. Để phục vụ cho nhiều mục tiêu khác nhau, lý thuyết triển vọng được kết hợp với tính toán bất hợp lý, mà một động lực chủ yếu của tính toán bất hợp lý là sự phụ thuộc chiều hướng. Các yếu tố then chốt của các mô hình này bao gồm việc đánh giá các kết quả so với một điểm tham chiếu (ví dụ tình trạng hiện tại), một sự e ngại đối với thua lỗ, và thái độ đối với rủi ro tùy thuộc hoàn cảnh. Tài chính hiện đại cũng phải đối mặt với thực tế ngày càng rõ ràng là CAPM và tính hiệu quả của thị trường xung đột với những bằng chứng thực nghiệm sử dụng các dữ liệu sẵn có.
Chương 4 sẽ bắt đầu bằng việc điểm qua một vài bất thường, được định nghĩa là những phát hiện không nhất quán với tính hiệu lực đồng thời của cả CAPM và thị trường hiệu quả. Những phát triển về mặt lý thuyết cũng đóng một vai trò nào đó. Mặc dù trong quá khứ con người có khuynh hướng cho rằng các cơ hội sinh lời luôn đễ dàng bị “kinh doanh chênh lệch giá loại bổ” trong các thị trường xxii GIOI THIEU cạnh tranh, nhưng một vài người bắt đầu đặt câu hỏi liệu kinh doanh chênh lệch giá có đơn giản và phí rủi ro như sách giáo khoa để xuất hay không. Trường phái này tranh luận rằng có những giới hạn đáng kể đối với hoạt động kinh doanh chênh lệch giá.
Những giới hạn này bị chỉ phối bởi các nhân tố như rủi ro nhà giao dịch nhiễu (khả năng mức giá sai sẽ tiếp tục trầm trọng hơn trong ngắn hạn); và chỉ phí thực hiện đáng kể (chỉ phí giao dịch và khả năng không có sẵn các chứng khoán cần bán khống). Tài chính hành vi có tính liên thông về mặt học thuật cao hơn so với các lĩnh vực khác trong tài chính. Tài chính hành vi dựa trên rất nhiều nghiên cứu học thuật của kế toán, kinh tế học, thống kê, tâm lý học và xã hội học. Nền táng lý thuyết về tâm lý học đặc biệt hữu ích trong việc khám phá cách thức con người ra quyết định cũng như biểu hiện của những lệch lạc.
Trong Phần II, chúng tôi cung cấp những nến tảng cần thiết của tâm lý học. Nguyên tắc phân loại mà chúng tôi sử dụng là phân chia các hành vi dựa trên tâm lý thành ba nhóm: tự nghiệm và những giới hạn trong nhận thức, tâm lý quá tự tin, và cảm xúc. Trong Chương 5, chúng tôi bắt đầu bằng việc lưu ý rằng các mô hình tài chính và kinh tế học hiện tại dường như thường hàm ý sự tồn tại của người ra quyết định phi cảm xúc và sở hữu trong não một bộ nhớ RAM gần như không giới hạn. Một người như vậy sẽ xem xét tất cả các thông tin có liên quan, đạt đến lựa chọn tối uu trong một quá trình được gọi là tối ưu hóa trong điều kiện ràng buộc.
Tuy nhiên, tồn tại rất nhiều những giới hạn rõ ràng trong nhận thức, bao gồm những nhận thức và trí nhớ mang tính chọn lọc và sai sót, sự thiếu chú ý, và ảnh hưởng của cách trình bày. Những vấn để phức tạp phải được đơn giản hóa, và tự nghiệm, hay quy tắc ngón tay cái, được tạo ra nhằm mục đích này. Áp lực tiến hóa để sống sót dẫn đến việc hình thành vô số những tự nghiệm này. Mặc dù chúng thường đưa đến những hành động sáng suốt, nhưng đôi khi “bộ công cụ” này lại sai lầm.
Đặc biệt là khi phải đưa ra các quyết định trong bối cảnh hiện đại phức tạp, trong khi nhiều tự nghiệm ban đầu được hình thành để giúp con người tìm kiếm và đảm bảo thức ăn cũng như chỗ ở. Chúng ta sẽ xem xét rất nhiều dạng tự nghiệm khác nhau, bao gồm những tự nghiệm ảnh hưởng chủ yếu đến sở thích thông qua việc tìm kiếm sự thoải mái và những tự nghiệm được hình thành để ước tính xác suất. Mặc dù có rất nhiều bằng chứng cho thấy những sai lầm, nhưng một vài người, đặc biệt là những người tán thành quan điểm tự nghiệm là “nhanh chóng và ít tốn kém” lại lập luận rằng các tự nghiệm hoạt động tốt hơn là chúng ta nghĩ. GIỚI THIỆU xxiii Kế tiếp, trong Chương 6, chúng ta nhận thấy rằng con người có xu ˆ hướng quá tự tin.
Những người quá tự tin đánh giá quá cao kiến thức, khả năng và độ chính xác trong thông tin của họ, hoặc sẽ quá lạc quan về tương lai và khả năng kiểm soát nó. Sự quá tự tin có những dạng như ước lượng sai (là xu hướng tin rằng độ chính xác trong kiến thức của mình cao hơn thực tế), hiệu ứng tốt hơn mức trung bình, ảo tưởng kiểm soát (niềm tin không có cơ sở rằng họ có thể tác động đến hoàn cảnh), và lạc quan quá mức. Tâm lý quá tự tin có thể khuyến khích các hành động ngay cả khi có những cảnh báo. : Cuối cùng, trong Chương 7, chúng ta xem xét các cảm xúc là gì và cách thức mà chúng tác động đến quá trình ra quyết định.
Chưa tính đến sự nghiệp thì rất nhiều tiền đã được đem ra đánh cược trong các quyết định tài chính, và mức cược cao có thể chỉ gia tăng mức độ cảm xúc. Chắc chắn có sự suy đoán rằng các cảm xúc có ảnh hưởng lên các thị trường, tất nhiên điểu này hàm ý rằng trước hết chúng phải có tác động đến quyết định của các cá nhân. Mặc dù thực tế là cảm xúc quá khích có thể là. không tốt, nhưng một trạng thái cảm xúc cân bằng (ngược với tình trạng không có cảm xúc) thực sự có thể thúc đẩy những quyết định sáng suốt.
Khi đã được trang bị những kiến thức cơ bản về tâm lý học, Phần II. đi vào nghiên cứu cách thức mà tâm lý tác động đến việc ra quyết định tài chính ở cấp độ cá nhân. Lúc này, chúng ta tập trung vào các nhà đầu tư và. những người thực hành có liên quan trong thị trường vốn thay vì tập trung vào những nhà quản lý doanh nghiệp.
Trong Chương 8, chúng ta bắt đầu: bằng việc nghiên cứu mức độ dẫn đến các quyết định tài chính dưới mức tối ưu khi sử dụng sai các tự nghiệm. Ví dụ, tự nghiệm tình huống điển © hình có thể thuyết phục người ta tin rằng các công ty tốt là các khoản đầu ˆ tư tốt, và các công ty gần đây có thành quả tốt trên thị trường chứng khoán là những cổ phiếu nên mua vào. Lệch lạc quen thuộc có thể khiến việc đầu tư quá mức vào thị trường nội địa hoặc địa phương. Lệch lạc sẵn có thúc đẩy con người tập trung đầu tư vào các chứng khoán có sẵn thông tin.
Neo quyết định khiến các cá nhân kiên trì bám vào những gợi ý sẵn có, thay vì dựa vào chính ý kiến và kiến thức của mình. Trong Chương 9, chúng ta khám phá mức độ dẫn tới các hành vi dưới mức tối ưu của tâm lý quá tự tin đối với một bộ phận các nhà đầu tư và những người tham gia trên thị trường vốn. Xu hướng tin rằng phân tích của cá nhân chính xác hơn thực tế dường như thực sự khiến các nhà đầu tư giao dịch quá mức. Những vấn đề khác có liên quan đến tâm lý quá tự tin là đa dạng hóa dưới mức và chấp nhận quá nhiều rủi ro.
Xxiv GIỚI THIẾU Chương cuối cùng trong phần này, Chương 10 nghiên cứu cách thức cảm xúc tác động lên các quyết định tài chính. Bằng chứng rõ ràng nhất là đối với hiệu ứng hòa vốn, hiệu ứng thu nhập ngoài kỳ vọng và hiệu ứng ngược vị thế.