Chương 1: Những vấn đề chung về tài trợ của Nhà nước cho các nhiệm vụ khoa học và công nghệ Chương 2: Thực trạng tài trợ các nhiệm vụ khoa học và công nghệ tại Qũy Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường tài trợ các nhiệm vụ khoa học và công nghệ tại Qũy Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÀI TRỢ CỦA NHÀ NƢỚC CHO CÁC NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA 1. Tầm quan trọng của tài trợ Nhà nƣớc cho các nhiệm vụ khoa học và công nghệ 1. Ảnh hưởng của khoa học và công nghệ trong phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế * Xu hướng phát triển khoa học và công nghệ Cuộc cách mạng KH&CN hiện đại với bước tiến như vũ bão diễn ra trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã tạo ra nhiều cơ hội và thách thức trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Để tận dụng các cơ hội và hạn chế tác động tiêu cực của quá trình toàn cầu hóa, các quốc gia cần nắm bắt và phát triển theo xu hướng phát triển KH&CN thế giới.
Trong thế kỷ XXI, KH&CN thế giới đang đang phát triển theo những xu thế sau: “Một là, xu thế hội nhập quốc tế: Là xu thế tất yếu trong nghiên cứu KH&CN, cho phép các chủ thể, các quốc gia khai thác được các thành quả nghiên cứu mới về KH&CN của thế giới, tận dụng được vốn, công nghệ, nhân lực của đối tác và để phát huy lợi thế so sánh của mình trong nghiên cứu khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, mức độ hợp tác quốc tế tùy thuộc vào tiềm lực và năng lực KH&CN của mỗi quốc gia. Thông thường những nước đang phát triển sẽ tham gia tích cực hơn trong hợp tác quốc tế về KH&CN vì các nước này có xu hướng tiếp cận các công nghệ tiên tiến từ bên ngoài để nâng cao năng lực công nghệ nội sinh của mình. Các hoạt động KH&CN đang có xu hướng chuyển từ cá nhân sang nhóm, từ quốc gia sang quốc tế.
Hình thức đồng tác giả, đồng sáng chế quốc tế tăng nhanh và trở thành hình thức hợp tác khoa học phổ biến trên thế giới. Hai là, phát triển KH&CN hướng vào những ngành mũi nhọn như công nghệ môi trường (nhằm đạt được các mục tiêu bảo vệ môi trường như giảm nhẹ biến đổi khí hậu, kiểm soát ô nhiễm không khí và nước, nâng cao đa dạng sinh học và nâng 8 cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên); công nghệ sinh học (giúp đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội bền vững như giúp cải thiện sức khoẻ cộng đồng, bảo vệ môi trường, sản xuất năng lượng sạch.); công nghệ nano (giúp thu nhỏ các thiết bị công nghệ thông tin, phát triển nghiên cứu bộ gen và góp phần sản sinh ra năng lượng tái tạo),. Ba là, xu hướng gia tăng đầu tư cho khoa học và công nghệ của các quốc gia: Đầu tư cho KH&CN sẽ tạo ra những sản phẩm và công nghệ mới, từ đó góp phần vào sự phát triển kinh tế của các quốc gia và doanh nghiệp. Các nguồn đầu tư cho KH&CN trên thế giới chủ yếu là từ Chính phủ, doanh nghiệp và các tổ chức khác, tuy nhiên tỷ lệ nguồn đầu tư ở các nước là khác nhau, Hiện nay các nước chỉ dành 20 - 30% đầu tư cho KH&CN là từ ngân sách, còn 70- 80% là của xã hội, còn tại Việt Nam lại ngược lại.
Bốn là, xu hướng tăng cường bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và thống nhất theo các quy định, tiêu chuẩn quốc tế trong các hoạt động KH&CN: Khi tham gia vào quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, các quốc gia, các doanh nghiệp đều phải thực hiện việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hoá khoa học và công nghệ theo các quy định quốc tế. Việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nhằm hạn chế tối đa hàng giả và sự sao chép không trả tiền hàng hoá khoa học và công nghệ ở các nước bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ yếu. Để đảm bảo việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ trên phạm vi quốc tế, các nước phát triển đã gắn việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ với thương mại quốc tế trong các đàm phán về hội nhập kinh tế quốc tế. Ngoài ra, để các kết quả, sản phẩm nghiên cứu khoa học và công nghệ ứng dụng được trên phạm vi quốc tế trong bối cảnh chuyên môn hóa, phân công lao động quốc tế các hoạt động khoa học và công nghệ ngày càng gia tăng, cần phải có hệ thống các quy định về tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá thống nhất giữa các quốc gia.
Điều này buộc các nước và các chủ thể khi tham gia vào quá trình nghiên cứu khoa học và công nghệ quốc tế phải tuân thủ những quy định, khuôn khổ, chế độ và tiêu chuẩn quốc tế trong các hiệp định, điều ước quốc tế đã ký kết. Xu hướng này đòi hỏi các quốc gia phải xem xét, điều chỉnh chính sách, hệ thống pháp luật liên 9 quan và cách thức nghiên cứu khoa học cho phù hợp và hài hòa với những quy định quốc tế. - Năm là, xu hướng tự do hoá các hoạt động KH&CN quốc tế: Để thực hiện các hoạt động KH&CN trên phạm vi quốc tế, các quốc gia không được phân biệt đối xử giữa các chủ thể trong nước và nước ngoài trong các hoạt động về đầu tư, thương mại, dịch vụ, di chuyển nhân lực quốc tế… nên đã hình thành nên xu hướng tự do hoá các hoạt động nêu trên. Theo xu hướng này, các nguồn lực và công nghệ của các quốc gia, chủ thể, doanh nghiệp sẽ vượt ra khỏi biên giới của một quốc gia, lưu thông, dịch chuyển trên quy mô quốc tế, góp phần thúc đẩy sự phát triển của các hoạt động KH&CN toàn cầu.
Trong xu hướng tự do hóa các KH&CN các công ty xuyên quốc gia có vai trò quan trọng. Các hoạt động đầu tư của các công ty xuyên quốc gia có hai xu hướng: (1) Xu hướng tập trung vào các lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ tiên tiến để khai thác nguồn nhân lực chất lượng cao và đáp ứng nhu cầu thị trường nước sở tại, xu hướng này chủ yếu xảy ra ở các nước có cơ sở hạ tầng tốt, nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu và có thị trường tiềm năng lớn cho các sản phẩm công nghệ cao như nhóm các nước có nền kinh tế đang nổi lên (BRICS); (2) Xu hướng đầu tư của các công ty xuyên quốc gia vào các nước đang phát triển nhằm khai thác tài nguyên và nguồn nhân lực có kỹ năng giản đơn và chi phí thấp. Tuy nhiên, các nước đang phát triển có thể thu hút được các hoạt động đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ tiên tiến của các công ty xuyên quốc gia nếu đáp ứng các điều kiện về nguồn nhân lực chất lượng cao và môi trường thuận lợi cho đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ tiến tiến”. (Tạp chí tuyên giáo số 11, 2017) * Đặc điểm của cách mạng khoa học 4.0 Trong lịch sử phát triển của nhân loại đã diễn ra 4 cuộc cánh mạng công nghiệp: lần 1 từ cuối thế kỷ 18 đến nửa đầu thế kỷ 19, đánh dấu bằng sự ra đời của động cơ hơi nước, sau đó là động cơ đốt trong, mở rộng sử dụng nhiên liệu than đá, xây dựng các tuyến đường sắt, mở ra kỷ nguyên sản xuất cơ khí và phát triển giao thương; Lần 2, bắt đầu từ nửa cuối thế kỷ 19 kéo dài tới đầu thế kỷ 20, với sự ra đời 10 của máy phát điện, đèn điện, động cơ điện, mở rộng việc sử dụng điện năng trong sản xuất, mở ra kỷ nguyên sản xuất hàng loạt; Lần thứ 3 bắt đầu vào thập niên 1960 với sự ra đời của chất bán dẫn đã dẫn tới việc sáng chế ra các siêu máy tính và Internet (thập niên 1990); Lần 4 là cách mạng công nghiệp 4.
Cách mạng Công nghiệp 4.0 (hay Cách mạng Công nghiệp lần thứ Tư) xuất phát từ khái niệm "Industrie 4.0" trong một báo cáo của chính phủ Đức năm 2013.0" kết nối các hệ thống nhúng và cơ sở sản xuất thông minh để tạo ra sự hội tụ kỹ thuật số giữa công nghiệp, kinh doanh, chức năng và quy trình bên trong. Về cơ bản, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ dựa trên ba lĩnh vực chính: “+ Lĩnh vực Kỹ thuật số: Bao gồm dữ liệu lớn (Big Data), vạn vật kết nối Internet (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI). + Lĩnh vực Công nghệ sinh học: Ứng dụng trong nông nghiệp, thủy sản, y dược, chế biến thực phẩm, bảo vệ môi trường, năng lượng tái tạo, hóa học và vật liệu. + Lĩnh vực Vật lý: Robot thế hệ mới, in 3D, xe tự lái, các vật liệu mới (graphene, skyrmions…), công nghệ nano.
Hiện tại, cả thế giới đang ở trong giai đoạn đầu của cuộc cánh mạng công nghiệp 4.0 và đây được xác định là chiến lược bản lề cho các nước đang phát triển tiến đến để theo kịp với xu hướng thế giới và mở ra bước ngoặt mới cho sự phát triển của con người. Giống như các cuộc cánh mạng công nghiệp trước đó, cuộc cánh mạng công nghiệp 4.0 sẽ làm tăng thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân toàn cầu. Cho đến nay, đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất từ cuộc cách mạng này chính là người tiêu dùng. Công nghệ đã tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới làm tăng hiệu quả và niềm vui cuộc sống của mỗi cá nhân; Trong tương lai, đổi mới về công nghệ cũng sẽ tạo ra một phép màu cho dịch vụ cung ứng, cải thiện năng suất và hiệu suất về lâu dài.
Chi phí vận chuyển và thông tin liên lạc sẽ giảm, các dịch vụ hậu cần (logistic) và chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ trở nên hiệu quả hơn, chi phí thương mại sẽ giảm. Một thị trường mới sẽ được mở ra và thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế; Tự động hóa thay thế người công nhân bằng máy móc có thể đem lại sự an 11 toàn và tạo ra những năng suất và giá trị mới. Tuy nhiên, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 có thể mang lại sự bất bình đẳng lớn hơn, đặc biệt là nó có thể phá vỡ thị trường lao động.